Truyện ngắn Tắm tiên của Trần Như Đắc

By Nguyễn Anh Đào

                              Có một niềm vui như thế

                                                                                         

                                                                                                                     Nguyễn Anh Đào

 

     Báo Văn nghệ số đặc biệt 18+19 ra ngày 30-4-2011 nhân kỷ niệm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước đã in truyện ngắn dự thi của tác giả Trần Như Đắc với cái tên ngồ ngộ “Tắm tiên”. Truyện đơn giản nhưng đậm tính nhân văn. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng lối kể chuyện hồn nhiên không trau chuốt ít dùng thủ pháp ẩn dụ mà vẫn làm cho người đọc cảm nhận được ý nghĩa của hình tượng qua từng tính cách nhân vật. Đây là bước đi tiếp của “Chị tôi ở phố Hòe Nhai” (báo Văn nghệ số đặc biệt kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội) của “Một thời lính” NXB QĐND mà Trần Như Đắc vừa mang đến cho người đọc dịp đầu xuân Tân Mão.

     Nói “tắm tiên” có người nghĩ đến cảnh các cô gái Thái ở Tây Bắc thả mình trên các dòng suối mát để rồi tò mò liên tưởng về những xúc cảm bản năng. Nhưng không phải. Trong truyện của Trần Như Đắc vẫn cảnh tắm tiên nhưng là cảnh một vị tướng và một anh lính cần vụ hồn nhiên cọ lưng cọ người cho nhau rồi cùng ngắm của quý của nhau mà cười.

     Cái ông tướng Nông Văn Khờ ấy thích sống hòa vào với thiên nhiên cùng vào rừng lấy măng lấy nấm với lính thích uống rượu nút lá chuối nhắm với măng đắng chấm muối ớt. Ông không nhận quà biếu của cấp dưới không yêu cầu cần vụ phục dịch kể cả giặt quần áo. Có chăng ông chỉ bảo kỳ hộ lưng khi ông tắm mà tính ông thì thích tắm truồng ở suối. Những lúc ấy thân hình ông tạc vào không gian như một bức tượng “thịt da ông nhẵn bóng màu đồng hun”… Một vị tướng như thế gì mà quân đội ta không hùng mạnh. Đọc “Tắm tiên” của Trần Như Đắc ta lại nhớ tới Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo câu: “Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào…”. Đó là tiền đề là cơ sở để quân dân ta đánh thắng mọi thứ giặc ngoại xâm dù chúng mạnh đến đâu.

     Nhưng người đọc vẫn thấy buồn.

     Bên cạnh tướng Khờ dân dã sống chan hòa với lính thì lại có ông tướng Huy sống quan cách thích quà biếu của cấp dưới. Mỗi lần về thăm nhà thì thằng Hòa cần vụ lại tất bật lo đóng gói những thứ quà cáp mà người ta biếu thủ trưởng của nó rồi chất đầy cả xe chở đi. Nghe tin ở đơn vị nào bắn được gấu rừng là thủ trưởng Huy cũng tìm cách gợi ý để họ biếu cho cái mật. Một thủ trưởng như tướng Huy tất phải có một cần vụ như thằng Hòa xun xoe nịnh hót tận tụy tăm nước cho thủ trưởng sau mỗi bữa ăn. Và con đường thăng tiến của hắn cũng khác cần vụ của tướng Khờ. Hòa được cất nhắc cho đi học sĩ quan chỉ huy. Còn “tôi” cần vụ của tướng Khờ được thủ trưởng quý mến đã giải quyết theo nguyện vọng cho về tiểu đoàn Bốn vì ở đấy “có suối Nách ở bản Dao đẹp lắm tha hồ mà tắm tiên nhé!”.

     Hai vị tướng với hai người lính cần vụ qua truyện ngắn “Tắm tiên” của Trần như Đắc là hai bức tranh đối lập một sáng một tối đáng để người đọc suy ngẫm.

 

     Không được giải gì trong đợt xét giải 5 năm của tỉnh Phú Thọ (2005-2010) mặc dù tác giả có hai tập truyện được in gửi xét. Trong khi đó mọi người khuân giải về như khuân củi. Tuy có buồn nhưng Trần Như Đắc không nản. Anh vẫn cặm cụi viết và viết. Anh khiêm tốn học hỏi những người có kinh nghiệm hơn mình. “Một thời lính” ra mắt bạn đọc được mọi người đánh giá cao qua cuộc hội thảo vừa rồi đã phần nào động viên anh. Trần Như Đắc quan niệm: Viết là để thể hiện tình cảm của mình trước cuộc sống chứ phải đâu là để lấy giải.

     Trần Như Đắc không có tên trong danh sách hội viên Hội nhà văn nhưng tuần báo Văn nghệ của Hội trong hai số đặc biệt gần đây đã in hai truyện ngắn của anh một tác giả tỉnh lẻ không tên tuổi không một lần “A lô” với BBT điều đó thật đáng trân trọng. Không những thế đó còn là mơ ước của một số nhà văn ngực đeo huy hiệu nhưng chưa thấy có truyện ngắn nào ra hồn được in trên báo nhất là báo Văn nghệ.

     Báo phát hành ngày 30-4 nhưng ngày 28-3 đã có bán ở quầy bưu điện. Anh Đắc đã mua vài tờ và đem đến tặng tôi một tờ. Trên nét mặt anh lộ rõ sự vui mừng. Đó là cái vui của một bác nông dân cần cù vừa được mùa bội thu bõ những ngày cuốc cày mưa nắng.

     Xin chia sẻ chân tình cùng tác giả.  

 

                                                                N. A. Đ

alt

alt

More...

Xem tranh Đỗ Ngọc Dũng

By Nguyễn Anh Đào

HỒN DÂN TỘC TRONG TRANH ĐỖ NGỌC DŨNG

 

                                                  Nguyễn Anh Đào 

 

     Cách đây mấy năm tại nhà 29 Hàng Bài Hà Nội đã có cuộc triển lãm tranh của Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng. 41 bức tranh sơn dầu khổ lớn của anh được trư­ng bày trang trọng tại phòng chính nhà triển lãm đúng vào dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9. Đây là một sự kiện nổi bật trong giới Mĩ thuật không chỉ của Phú Thọ mà còn gây được tiếng vang trong cả n­ước. Tôi có may mắn đ­ược chứng kiến sự có mặt của hàng trăm quan khách đến từ các tỉnh Ninh Bình Hải D­ương Thái Nguyên Vĩnh Phúc Hà Nội... để xem tranh và chúc mừng tác giả trong buổi khai mạc cùng với hàng trăm bức điện hoa từ Vũng Tàu Quảng Ninh Cao Bằng Đà Lạt... gửi tới.

alt

             Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng

     Mọi ng­ười đến với tranh Đỗ Ngọc Dũng không chỉ vì anh là Chủ tịch Hội VHNT tỉnh có quan hệ rộng rãi mật thiết với nhiều đối tư­ợng mà cái chính vì tranh anh thể hiện đ­ược cái hồn của dân tộc mang đậm hơi thở cuộc sống của miền đất trung du Phú Thọ nơi phát tích của nền văn hiến ngàn năm.

     B­ước vào thế giới tranh của Đỗ Ngọc Dũng ng­ười xem đứng lặng trước “Nét ông cha” bức tranh có kích cỡ lớn (150 x 150cm) với những đư­ờng nét những mảng màu vừa tự nhiên vừa trang trọng tái hiện quá khứ lịch sử từ thời Hùng V­ương dựng nư­ớc. Rồi bức “Đền Th­ượng” (120 x 140cm) mang dáng vẻ cổ kính u trầm gợi không khí sâu lắng tôn nghiêm. Cũng ở mảng đề tài này còn có “Nhịp trống đồng” “Gióng” “Hạnh phúc An Tiêm” là những tác phẩm làm thức dậy trong lòng ng­ười xem đời sống tâm linh h­ướng về cội nguồn dân tộc.

     Nhìn chung tranh sơn dầu của Đỗ Ngọc Dũng phong phú về đề tài đa dạng về cách thể hiện như­ng ng­ười xem vẫn thấy nổi lên những nét đặc sắc quen thuộc khi tác giả thể hiện cảnh thiên nhiên và cuộc sống con ngư­ời trên quê h­ương Đất Tổ. Các bức “Buổi sáng Trung du” “Đốm trắng trên đồng” “Cọ” “Quê hương” “Bên dòng suối”... là những tác phẩm mà ngư­ời họa sĩ tài hoa đã gửi vào đó tất cả những tình cảm sâu nặng của mình với miền đất “Rừng cọ đồi chè” nơi anh sinh ra và lớn lên. Chỉ vài nét đơn giản với gam màu nâu nhạt chiếm lĩnh toàn bộ nền vải bức “Cọ” tuy treo ở góc trong của phòng tranh như­ng vẫn “hút” đ­ược hàng trăm con mắt hư­ớng vào. Bao đời nay cây cọ vẫn đứng liêu xiêu lá xoè tán biếc hứng mưa vẫy gió trên mảnh đất đồi gò cỗi cằn sỏi đá trung du. Nhưng khi đi vào tranh của Đỗ Ngọc Dũng cọ trở nên hiên ngang khí tiết càng nhìn càng thấy những nét mới. Trong lĩnh vực hội hoạ th­ường là nh­ư vậy. Có khi chăm chút quá lại không thành. Ngược lại chỉ phớt bút qua vài nét thì lại đ­ược. “Cọ” là một bức tranh xuất thần như­ thế.

     Cái tài của ng­ười nghệ sĩ là có con mắt nhìn thấu bản chất của sự vật từ những cái rất thông th­ường để rồi thể hiện nó bằng thứ ngôn ngữ đặc trư­ng đặt tên cho nó và đ­ưa nó ra khỏi cái trạng thái vô tri tầm th­ường. Bức “Nốt nhạc” đâu chỉ là hình ảnh những ngư­ời đi mò tôm vợt tép mà là sự biến hoá kỳ ảo của ánh sáng. Cái làm nên sức mạnh kỳ diệu đó của hội hoạ đã đ­ược Đỗ Ngọc Dũng sử dụng như­ là một thứ chất liệu sẵn có ở anh khiến ta xem tranh mà như­ đang đi vào thế giới huyền thoại.

     Trong số hàng trăm tác phẩm hội họa của Đỗ Ngọc Dũng ngoài những bức vẽ phong cảnh thì tranh về cuộc sống sinh hoạt của con ng­ười chiếm một tỷ lệ tương đối nhất là tranh về thiếu nữ. Các bức “Tắm trăng” “Một đêm trư­ớc biển” “Thiếu nữ với mùa xuân” “Trăng non trên hồ” “Nữ sinh”... cho thấy ngọn bút của tác giả không ít lần h­ướng về cái đẹp thanh khiết tới mức thánh thiện của giới nữ đang độ thanh xuân. Những mái tóc tãi ra lả lơi trong gió những thân hình mềm mại ẩn hiện trong mờ mờ s­ương khói những tà áo th­ướt tha những vành nón trắng... Tất cả đều đáng đ­ược tôn vinh. Nh­ưng có lẽ ở mảng tranh này đôi khi tác giả đã “Lực bất tòng tâm” ch­ưa v­ượt lên đư­ợc so với các danh họa lớp trư­ớc như­ Tô Ngọc Vân Trần Văn Cẩn Lưu Công Nhân... Tuy vậy với bức “Thiếu nữ M­ường” anh mới hoàn thành đã để lại ấn t­ượng sâu sắc cho ng­ười xem. Đó là bóng dáng những cô gái Thái xúng xính váy dài áo cóm vòng cổ vòng tai trong ngày hội xuân hồn nhiên xinh đẹp nh­ư những bông hoa thanh khiết của núi rừng Tây Bắc.

     Là một hoạ sĩ trẻ đa tình hẳn là Đỗ Ngọc Dũng đã từng nhiều phen xao xuyến rung động tr­ước những vẻ đẹp đầy bí ẩn của những bông hoa đời. Ấy mà cũng lạ khi ng­ười xem thấy bút lực của anh bất ngờ dồn tụ cho bức “Một dáng chiều”. Nhiều ng­ười tấm tắc ngợi khen bức tranh này. Đó là hình ảnh một bà mẹ nhà quê già nua l­ưng còng tay chống gậy tay cầm nón mê đang b­ước đi giữa cảnh chiều đông giá rét. Mẹ đi về đâu giữa cái không gian mênh mông và xám xịt này! Thì ra trái tim của người nghệ sĩ không phải chỉ dành cho những bóng hồng tha thướt mà nó còn luôn cùng nhịp đập với những mảnh đời những kiếp ng­ười lầm lụi trong đó có những bà mẹ nghèo hẩm hiu số phận.

alt

                    Một dáng chiều

alt

                    Cùng cảnh ngộ

     Ngoài ra thế giới hiện lên qua tranh của Đỗ Ngọc Dũng ta thấy vừa quen thuộc vừa có những nét riêng độc đáo mà vốn từ ngữ nghèo nàn của chúng ta có lúc không diễn đạt nổi. Đó là những bức “Sự sống” “Quy luật nghiệt ngã” “Hành trình của sự sống”... Vừa siêu thực vừa lãng mạn. Trừu t­ượng nh­ưng không vô thể. Huyền bí ẩn dụ nh­ưng không phải là không tiếp cận đ­ược. Càng nhìn càng thấy ẩn chứa những quan niệm những triết lý nhân sinh sâu sắc.

     Xem tranh Đỗ Ngọc Dũng đòi hỏi ta phải đứng từ xa mà ngắm nghía một cách chậm chạp kỹ càng vì tranh của anh không làm ng­ười xem hoa mắt bởi những sắc màu rực rỡ. Có lẽ đó cũng là đặc trư­ng của chất liệu sơn dầu qua bút pháp tài hoa của Đỗ Ngọc Dũng. Chúng bình dị và chính xác nh­ưng không kém phần âm vang nh­ư mỗi khi ta nghe nhạc thính phòng hoặc đọc truyện “Lông chim nhạn” của Sao Mai. Có khi nó giống như­ một khúc đồng dao một lời ca ngân nga trong gió đầy âm hưởng lại có lúc r­ưng rư­ng xao xuyến nh­ư những giọt lệ yêu thương của mối tình đầu...

     Có ng­ười nói vẽ tranh là một nghề xa xỉ. Cứ tính một mét toan loại xịn một tuýp sơn dầu ngoại mỗi thứ cũng vài trăm ngàn. Một chiếc panh sô loại tốt cũng khoảng chừng ấy. Đó là chư­a kể những thứ khác nh­ư khung bay vẽ kìm đóng... Để làm ra một bức tranh hoạ sĩ phải có  vốn ban đầu mà giá trị của tranh là ở tính độc bản. Một bức tranh ra đời duy nhất chỉ có nó mới có tư­ cách để tồn tại mọi thứ phiên bản đều vô nghĩa. Vậy mà hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng đã v­ượt lên đ­ược những  cản trở về thời gian về tài chính để có một gia tài tranh đồ sộ hàng mấy trăm bức như­ ta đã thấy quả là đáng khâm phục.

      Ngoài hai mươi tuổi Đỗ Ngọc Dũng không chỉ có tranh triển lãm toàn quốc mà anh còn có tranh triển lãm quốc tế ở Liên Xô ở Phần Lan. Tranh Đỗ Ngọc Dũng từng đoạt giải cao của Liên hiệp các hội VHNT của Hội Mỹ Thuật và của Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam và nhất là giải thưởng Hùng Vương của tỉnh Phủ Thọ. Nhìn anh hàng ngày ở cơ quan hay những lúc gặp gỡ giao l­ưu bạn bè ai cũng nghĩ rằng con ng­ười ấy sinh ra là để quản lý và lãnh đạo để đi họp và ngồi bàn giấy. Như­ng không phải. Đỗ Ngọc Dũng trước hết là con người của công việc. Với cương vị là Chủ tịch Hội nay là Liên hiệp Hội anh luôn suy nghĩ và có những việc làm thiết thực nhằm đưa sự nghiệp VHNT của tỉnh vượt lên xứng tầm với vùng đất cội nguồn giàu truyền thống cách mạng. Đặc biệt anh rất quan tâm tới việc chăm lo quyền lợi và đời sống của hội viên nên được mọi người trẻ cũng như già đều quý mến và tín nhiệm.

     Khi b­ước chân về căn nhà bên đường Lê Quý Đôn thành phố Việt Trì mắc quần áo dài lên giá thì tất cả những cái gì gọi là hào hoa phong nhã Đỗ Ngọc Dũng gửi lại bên ngoài và lúc đó anh chỉ còn là một họa sĩ chuyên nghiệp miệt mài cặm cụi bên khung vải không phải chịu bất kỳ một áp lực nào mặc sức trải lòng mình cho nghệ thuật. Có lẽ đó là những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của ng­ười nghệ sĩ khi đ­ược tự do lao động và sáng tạo. Thiên nhiên và cuộc sống ùa vào nơi ấy qua lăng kính chủ quan của tác giả để rồi hiện hình trên khung vải.

     Một lần tôi đ­ưa nhà văn Nguyễn Quang Hà ở Thừa Thiên – Huế đến nhà  Đỗ Ngọc Dũng. Giữa mùa đông giá lạnh mà hoạ sĩ may ô quần cộc mũ le đội lệch đang trần lực bên xư­ởng vẽ giữa trăm thứ bộn bề. “Xin lỗi! Khách quý đến nhà mà ăn mặc thế này thật không tiện”. Anh nói. Như­ng nhà văn Nguyễn Quang Hà đã kịp rời phòng khách nhanh chân đi xem từng bức tranh dựng ở quanh t­ường có những bức hãy còn đang vẽ dở không để chủ nhà phải lúng túng. (Anh Hà cũng rất sành về hội hoạ có vợ là chị Quỳnh từng mang tranh sang triển lãm ở Pari – Pháp). Sau những lời nhận định về tranh của Đỗ Ngọc Dũng anh Hà nói riêng với tôi: “Dũng là một hoạ sĩ tài năng. Anh đang tích tụ nội lực cho ngày mai. Một cuộc triển lãm tầm cỡ sớm muộn rồi sẽ đ­ược thực hiện”.

     Câu nói đó của ng­ười khách Huế ít lâu sau đã thành hiện thực. Và không biết có chủ quan không hay là còn quá sớm để khẳng định rằng tranh sơn dầu của Đỗ Ngọc Dũng trong đó có “Một dáng chiều” “Tiếng than của đại ngàn” “Dấu ấn thời gian” “Nét xưa” “Cọ”… là những tác phẩm để đời. Phải nói đóng góp đó của anh là đáng kể đối với nền hội họa n­ước nhà tạo nên một cụm tác phẩm xứng đáng đề nghị Nhà nước trao giải thưởng. Xin hãy chờ kết quả của sự sàng lọc khách quan.

 

                                                                                                 N. A. Đ

 

 

More...

Giới thiệu tập Tình Núi

By Nguyễn Anh Đào

 

                                Đốm sáng từ góc rừng

 

                                                                       Hoàng Việt Quân

 

          Tôi hay ngồi ở góc cơ quan Hội Văn học Nghệ Thuật tỉnh Yên Bái tỉ mẩn như một người đeo giỏ vào rừng bới lá đi tìm hạt găng hạt dẻ lật giở hàng đống giấy tờ trong những tập hồ sơ lưu trữ cũ của Hội Văn nghệ Lào Cai và sau đó là Hoàng Liên Sơn lúc thì xem xét ghi chép lúc lại sắp xếp cho có thứ tự theo thời gian và theo từng loại công việc bởi chỉ sợ người ta để lộn xộn làm mất mát hoặc đem bán cho người mua giấy loại hay đốt bỏ đi. Có người bảo tôi giở chứng lẩm cẩm nhưng mặc họ vì tôi thấy loại giấy tờ cũ rách ấy quý lắm. Chúng là bằng chứng sống không gì có thể thay thế được về những hoạt động Văn học Nghệ thuật ở địa phương một thời đang lặng lẽ đi vào quá khứ.

alt 

          Gặp lại Lào Cai: Từ trái: Hoàng Việt Quân Nguyễn Thị Minh Thông Trần Hữu Sơn Ma Văn Kháng Nguyễn Anh Đào

         Một hôm tình cờ tôi nhặt được một văn bản đánh máy đã rách nát của Ban vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai do ông Vi Khánh Vinh Trưởng ban (Nguyên Thường vụ Tỉnh uỷ Lào Cai) ký xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên ngày 2-10/1972 để tiến tới chính thức thành lập Hội trong tháng 11 năm đó. Theo văn bản này thì có 50 văn nghệ sĩ được công nhận là hội viên. Ngoài ra văn bản còn ghi rõ: "Hai cộng tác viên tích cực là Trịnh Thoại và Nguyễn Anh Đào được xét nhưng kết nạp vào đợt sau". Chắc là ý lãnh đạo muốn tránh sự xô bồ đánh trống ghi tên nhất là đối với tổ chức chính trị xã hội và nghề nghiệp luôn được coi là sang trọng và danh giá này.

          Từ nhỏ thời còn là học sinh phổ thông cấp 3 tôi đã từng đọc tác phẩm của Nguyễn Anh Đào khi mà Hội Văn nghệ Lào Cai chưa được thành lập. Lúc đó anh viết truyện ngắn và làm thơ. Sáng tác của anh được in đều trên các ấn phẩm của Ty Văn hoá Thông tin tỉnh Lào Cai. Rất tiếc do việc lưu trữ sách báo và các tập sáng tác không tốt trong điều kiện chiến tranh rồi nhập tỉnh tách tỉnh nên khó tìm lại những bài viết của tác giả này một cách đầy đủ. Chỉ xin tạm kể ra đây những tác phẩm của anh mà tôi được đọc và tìm thấy trong đống bề bộn những giấy tờ và sách báo cũ ẩm mốc kia. Đó là: Truyện ký "Cái phích nước" in trong tập Văn thơ chọn lọc 1964-1972 do Ty VHTT và Hội VHNT Lào Cai xuất bản năm 1972. Truyện ngắn "Đứa con yêu" và Tuỳ bút "Mùa xuân màu xanh và cây súng" đều in trong các tập Văn hoá Văn nghệ do Ty VHTT Lào Cai xuất bản trong các năm 1965 và 1967. Truyện ngắn "A Ly A Măng" in trong tập Măng non do Ty VHTT và Uỷ ban Thiếu niên Nhi đồng tỉnh xuất bản năm 1973. Truyện ngắn "Một đoạn đời của bà Phó Chủ tịch huyện" in trong tập Sáng tác Văn nghệ của Ty VHTT và Hội VHNT Lào Cai tháng 9/ 1973. Ngoài ra anh còn có một một số bài thơ được in ở Lào Cai như "Gặp em" "Mùa Thu đến trường". "Đi giữa mùa cam"... trong đó bài "Đi giữa mùa cam" được giải thưởng cuộc thi thơ về đề tài nông nghiệp và được tuyển chọn in trong tập Hương rừng do Hội Văn nghệ Hoàng Liên Sơn xuất bản năm 1976. Nguyễn Anh Đào cho biết lúc đầu anh làm thơ về sau do ảnh hưởng Ma Văn Kháng và Bùi Nguyên Khiết nên đã bỏ thơ và chuyên viết văn xuôi.

          Nguyễn Anh Đào là ai? ở đâu? Sao lâu nay không thấy viết nữa? Câu hỏi đó đặt ra sau khi tôi đi bộ đội và công tác ở trường Đại học Sư phạm Việt Bắc trở về Lào Cai rồi Yên Bái. Hỏi thăm mãi mới biết anh được kết nạp vào Hội năm 1974 rồi sau đó chuyển vùng về tỉnh Vĩnh Phú dạy học. Từ đó tôi cứ băn khoăn khó có cơ hội gặp được anh. May quá vào dịp Trại sáng tác do Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức ở Hà Nội tháng 8/2000 mà tôi đi dự trong đó có anh. Cái tên tác giả mà lúc đầu tôi cứ nghĩ là "đàn bà" ấy không ngờ lại là một "quý ông" ngoại lục tuần dáng người thấp đậm nhưng lộ rõ phong thái nhà giáo mô phạm tác phong điềm đạm mẫu mực được anh em tín nhiệm cử làm Trại phó. Qua  nhà thơ Minh Thông người phụ trách Trại giới thiệu nên tôi càng biết rõ về anh. Lại đúng dịp nhà văn Ma Văn Kháng đến nói chuyện với các trại viên rồi các anh Trần Tế Nguyễn Huy Hoà đến thăm. Người Lào Cai cũ gặp nhau ở Thủ đô tay bắt mặt mừng có bao nhiêu là chuyện để nói. Anh tặng tôi cuốn "Câu chuyện bên hồ" tiểu thuyết đầu tay của anh vừa mới lấy ở Nhà Xuất bản Hội Nhà văn về.

          Cuối năm 2002 tôi lại gặp Nguyễn Anh Đào trong Đại hội lần thứ V Hội VHNT tỉnh Lào Cai và lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội. Anh được mời với tư cách là hội viên cũ và là tác giả được giải thưởng VHNT Phăng Xi Păng lần thứ nhất cho truyện ngắn "Lân và Ly". Những ngày ở đây anh sống tran hoà trong tình bạn bè một thời văn chương cũ nơi mảnh đất biên cương núi non ngút ngàn trùng điệp. Anh tặng tôi tiểu thuyết thứ hai của mình cuốn "Bóng thời gian" (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2002) trong đó có một số chương miêu tả cuộc sống của người giáo viên vùng cao với bút pháp trữ tình khá ấn tượng. Anh cho biết anh đang tập hợp và viết tiếp một số truyện ngắn về đề tài dân tộc và miền núi để in thành tập lấy tên là Tình núi để trả nghĩa với Lào Cai nơi suýt nữa thì anh lấy đó làm quê hương thứ hai của mình.

          Tác giả Nguyễn Anh Đào nói những năm tháng đẹp đẽ và sôi nổi nhất của cuộc đời anh đã cống hiến cho miền núi vùng cao nên bây giờ viết cái gì thì cảnh vật và con người nơi đó lại cứ trở về chiếm chỗ trong tác phẩm của mình như một tất yếu không thể nào khác được. Những truyện ngắn mà anh đưa vào trong tập này là những bức tranh sinh động về cảnh vật và con người miền núi vùng cao với đủ các cung bậc về đời sống muôn màu. Đó là hình ảnh người cán bộ dưới xuôi lên công tác ở Tây Bắc xa xôi trong điều kiện vô cùng gian khổ hiểm nguy có lúc kề bên cái chết (Ký ức Chiềng Khoa); là sự vật lộn vươn lên để tự giải phóng mình khỏi đói nghèo cũng như những tập tục lạc hậu và ma tuý của người dân miền núi (Chuyện sau cơn lũ Ông Súa đã ra đi Vườn mận nhà Phú Sình...); là những tấm gương say sưa tận tuỵ của các giáo viên cắm bản sống hết mình với núi rừng (ở Seo Mí Tỷ Nơi tận cùng); những tình yêu trai gái hồn nhiên và mãnh liệt sâu sắc gắn bó như rễ cây cắm vào lòng đất tới mức hoang dại sẵn sàng chết vì tình yêu (Tình núi Nơi tận cùng)...

alt                                (Giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các hôi VHNT Việt Nam)

           Hầu hết các truyện in trong tập đều viết về dân tộc và miền núi chứng tỏ vốn sống của tác giả về mảng đề tài này khá phong phú. Cùng với những trải nghiệm sau 14 năm gắn bó với Lào Cai đủ cho tác giả tái tạo hiện thực xây dựng nên những điển hình về cuộc sống và con người ở miền núi vùng cao một cách trung thực như chính nó không tô vẽ không nhại cười như một số người viết khác. Đó là sự phát quang của một đốm sáng từ góc rừng le lói cách đây bốn mươi năm về trước khi tác giả còn là hiệu trưởng trường Phổ thông cấp Một xã Tả Van huyện Sa Pa nơi có thắng cảnh Cầu mây có bản người H Mông với cái tên Seo Mí Tỉ ở độ cao trên hai nghìn mét được coi là cái thềm trước của đỉnh Phăng Xi Păng- nóc nhà của Tổ quốc với những sáng tác đầu tiên của anh khi đó còn mộc mạc thô sơ như tấm váy của phụ nữ người H Mông chưa được lăn sỏp ong và thêu chỉ màu...

 

                                                                           H. V. Q

 

More...

Thơ Đàm Tuất

By Nguyễn Anh Đào

                        Tìm anh nơi vô vọng

                                                                        Nguyễn Anh Đào

Nhà thơ Đàm Tuất vừa có chuyến đi vào miền Trung cùng đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ. Anh có một số bài thơ mới làm qua chuyến đi trong đó có bài “Tìm anh”.


alt

                  Thắp hương tại Thành cổ Quảng Trị

                          

                          TÌM ANH

(Kính viếng anh trai: Liệt sĩ Đàm Hữu Mùi)

 

Gió lay phơ phất hồn lau

tiếng chim lạc dưới thung sâu gọi bầy

trời vần vũ

ngổn ngang mây

ai đưa em đến chốn này tìm anh!

 

Dấu mình dưới lớp cỏ xanh

Khóc lòa hai mắt… Mẹ thành cổ nhân

Câu thề - cũng nửa chừng xuân

Trai sinh thới loạn một gần… mười xa

 

Giữa rừng mộ chí bao la

lặng thầm

anh mãi chỉ là vô danh

lại thêm lần nữa hy sinh

và mang theo khúc quân hành về đâu…!

 

Sương mờ… mờ lấp dòng sâu

Em nghe vọng gió… những câu: Ơi đò!


alt

             Tại Nghĩa trang Trường Sơn

Chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng nhưng nỗi đau mất mát do nó gây ra thì như còn mãi đó với thời gian.

Người anh của Đàm Tuất đã nằm lại ở đâu đó trên mảnh đất Miền Trung sau một trận đánh ác liệt trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước năm xưa. Nhân chuyến đi này Đàm Tuất tìm anh ở Nghĩa trang Trường Sơn rồi Thành cổ Quảng Trị. Nhưng càng tìm thì càng vô vọng. Nơi đây “dưới rừng mộ chí bao la” tìm đâu cho thấy cái tên Đàm Hữu Mùi. Và cái cảnh chiến trường xưa hiện ra không chỉ là máu lửa đạn bom mà còn có cả “tiếng chim lạc dưới thung sâu gọi bầy”. Lạnh lẽo buồn tủi và cả ai oán khi “Gió lay phơ phất hồn lau”. Cái hình ảnh “vi lô xao xác” mở đầu bài thơ ấy gợi nỗi nhớ thương da diết mà ta gặp đâu đó ở những bến bờ hiu hắt vào những chiều sương Châu Mộc trong thơ Tây Tiến của Quang Dũng. (Ai lên Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau những bến bờ?).

Có sự hy sinh nào khi đứa con dứt ruột đẻ ra lại không để lại trong cuộc đời người mẹ nỗi đau buồn chồng chất. Người mẹ của liệt sĩ Đàm Hữu Mùi đã “thành cổ nhân” sau những năm tháng “khóc lòa hai mắt”. Và người yêu của anh cũng đành dang dở câu thề vì “trai sinh thời loạn một gần… mười xa”. Sự hy sinh thật là quá lớn đối với gia đình họ Đàm!

Nhưng nỗi đau mất mát không chỉ dừng lại ở đó. Đàm Tuất chợt nhận ra sau hai chữ “vô danh” trên những tấm bia mộ liệt sĩ nơi đây là cả một khoảng trống vô biên vời vợi. Một thực thể có đấy hiện hữu đấy mà vĩnh viễn lại là không. Biết đâu trong số hàng hàng bia mộ đứng câm lặng kia lại không có hài cốt của anh Mùi dưới đó? Thế là:

“Lại thêm lần nữa hy sinh

anh mang theo khúc quân hành về đâu…!”.

Cuộc “Tìm anh” của Đàm Tuất vậy là chìm trong vô vọng. Giữa cảnh quan hùng vĩ và hoành tráng nơi nghĩa trang quốc gia được xây cất hiện đại đẹp như một công viên nườm nượp người thăm viếng mà anh bỗng cảm thấy đất trời vần vũ:

 “Sương mờ… mờ lấp dòng sâu

 em nghe vọng gió… những câu “Ơi đò”…

Người đọc cảm thấy tê tái như vừa nghe có tiếng hú của gió ngàn vọng về từ xa thẳm chập chờn những linh hồn liệt sĩ nhắc nhở chúng ta hôm nay: Đừng bao giờ lãng quên những người con của dân tộc đã ngã xuống trong cuộc chiến năm xưa dù là vô danh hay hữu danh.

("). Mời các bạn đọc thêm: Đàm Tuất: Thơ và Đời

                                                                                            N. A. Đ

More...

Tiến sĩ Phí Văn Thuật

By Nguyễn Anh Đào

                             Giai thoại về ngôi mộ cổ và

                            Tiến sĩ Phí Văn Thuật đi thi

                                                     Nguyễn Anh Đào

         Ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) có một vị danh nho tên là Phí Văn Thuật. Ông là con trưởng Tri huyện Từ Liêm Phí Như Kiều. Thuở nhỏ học giỏi thần đồng cha mất sớm phải sống trong cảnh bần hàn. Mãi tới năm 21 tuổi Phí Văn Thuật mới đi thi Hương lần đầu. Ông đỗ Giải nguyên khoa Kỷ Mão (1639). Năm sau thi Hội qua 4 kỳ đều đỗ danh sách thứ nhất: Hội nguyên rồi dự kỳ sách vấn đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (Tiến sĩ) khoa Canh Dần (1640) đời Lê Thần Tông. Khi vào dự kỳ thi ứng chế trước sân rồng nhà vua tự ra đề. Bài của ông được chấm thứ nhất nên lúc bấy giờ người đời tôn ông là Tứ nguyên (4 lần đỗ đầu). Tên ông được khắc ghi trên bia số 35 ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội lập ngày 16 – 11 năm Thịnh Đức thứ I (1693).

       Xuất thân làm quan Phí Văn Thuật được phong chức Tự khanh ở Thái bộc tự phẩm trật hàng chánh ngũ phẩm được nhà vua ban tước Nam lấy chữ “Trưng” của tên làng quê để đặt tước hiệu là “Trưng Thọ Nam”. Ông là cháu ngoại Tiến sĩ Bùi Hoằng thời Mạc chú của Tiến sĩ Phí Quốc Thể đời vua Lê Hy Tông. Họ Phí có đền thờ Tiến sĩ Phí Văn Thuật ở xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường) với tên gọi “Tứ Nguyên Từ” trong hậu cung có bức biểu hoành bốn chữ “Văn Hiến Khả Trưng” và đôi câu đối:

       “Ngư tễ bách niên truyền đạo mạch

       Liên đàm vạn cổ dẫn thư hương”

       (Gò Con cá trăm năm còn lưu truyền mạch đạo

       Đầm Sen muôn đời dẫn dắt con đường thi thư khoa bảng).

       Để hiểu đầy đủ về đôi câu đối trên tôi phải đi hỏi ông Phí Văn Tiệp nhà giáo nghỉ hưu ở làng Vân Luông (Việt Trì - Phú Thọ) người hàng năm vẫn về Thượng Trưng để họp họ và tế tổ kể lại cho nghe câu chuyện về ngôi mộ tổ họ Phí đặt ở gò Con Cá cạnh đầm sen ở thôn Hòa Lạc xã Tân Cương (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc). Câu chuyện như sau:

       Theo người dân Thượng Trưng truyền lại thì từ xa xưa họ Bùi và họ Phí vốn là vọng tộc nhiều đời vẫn kết thông gia. Bùi Thủ Trân có con gái lấy chồng họ Phí. Cuối năm ấy con giai Bùi Thủ Trân là Bùi Phúc Diễn và con dâu họ Phí cùng đi đón thầy địa lý tìm đất để mả. Chỗ tìm được thuộc đất họ Bùi có thế “Quần ngư dịch tễ” – Đàn cá săn mồi - có thể phát đỗ 2 tiến sĩ nhưng khi đặt di cốt phải có 3 điều kiện: Táng đúng lúc giao thừa – Đúng ngày sát sư – Người phân kim phải là người qua đường đội nón sắt. Hai điều kiện trên thì dễ. Đúng nửa đêm 30 tết thầy địa lý vắng mặt là được. Nhưng người đặt tiểu phải đội nón sắt thì quả khó.

       Trong khi người con giai của Bùi Thủ Trân đang bận việc thì người con dâu họ Phí liền chuyển di cốt bố chồng đến nơi đất kết vừa tìm được và ngồi chờ. Mãi đến khi sắp sang canh mà vẫn không thấy có ai đội nón sắt đi qua. Mọi người đang thất vọng chán nản thì bỗng thấy một bóng đen lù lù xuất hiện trên đường. Tưởng ai hóa ra người làng Dận Tự bên cạnh đi ăn trộm về. Hai vai anh ta còn đeo lủng lẳng những chiếc bánh chưng bốc khói. Còn hai tay thì nâng cái chảo gang luộc bánh trên đầu. Hẳn là tên trộm này đã nẫng cả nồi bánh chưng tết của nhà ai đó.

       Người con gái Bùi Thủ Trân tức con dâu họ Phí mừng quá. Đúng là người đội nón sắt đây rồi liền quỳ xuống xin người đó giúp cho một việc hệ trọng. Tưởng mình bị bắt quả tang người kia sợ quá van xin được tha. Sau khi nghe rõ đầu đuôi liền thú thực mình chỉ là tên ăn trộm. Cũng vì nhà nghèo quá không có gì thờ tết cực chẳng đã nên phải làm thế chứ nào có biết gì về địa lý mà bảo đặt hướng mồ mả.

       Người con dâu họ Phí vẫn van nài. Chối không nổi người ăn trộm liền thò chân xuống huyệt gạt chiếc tiểu cho xê dịch một tý rồi mới đi. Người nhà họ Phí cám ơn rồi đắp lên thành mộ. Không ngờ cái gạt chân của tên kẻ trộm lại phân thành mạch “Tọa càn hương tốn” đúng như lời thầy Tàu phán.

alt

                 Mổ tổ họ Phí ở gò Con Cá

       Ngay sau đó Bùi Phúc Diễn cũng đem di cốt của bố là Bùi Thủ Trân đến chỗ đất kết để đặt thì thấy chỗ ấy đã có mộ. Người họ Bùi bảo nhau đào bỏ. Nhưng có người can ngăn là không nên để giữ âm đức. Họ Bùi đành rước di cốt Bùi Thủ Trân về ký táng tại xứ Gò Chám để lại đón thầy tìm đất khác. Nhưng chỉ mấy ngày sau bỗng nhiên chỗ ấy mối đùn đắp lên thành một ngôi mộ lớn. Họ Bùi cả mừng khi biết chỗ ký táng chỉ là vô tình nhưng lại chính là nơi quý địa. Thế là cả họ Bùi và họ Phí đều phát mộ và hai họ vẫn đời đời kết tình thông gia và con cháu thay nhau đỗ đạt. Họ Bùi và họ Phí đều có hai tiến sĩ Nho học. Họ Bùi có Bùi Hoằng và Bùi Công Tổn. Họ Phí có Phí Văn Thuật và Phí Văn Thể.

        Chuyện “Người không có mắt”:

      Mồ côi cha nhà nghèo 21 tuổi nho sinh Phí Văn Thuật vẫn lận đận việc mưu sinh. Khoa thi Hương Kỷ Mão (1639) ở trấn Sơn Tây. Ngày mai đã là ngày vào trường nhất mà cả đêm ấy Phí Văn Thuật vẫn phải chạy tiền chạy gạo. Mãi cho đến khi trời vừa sáng mới lo đủ.

      Đường từ Thượng Trưng sang Sơn Tây phải qua đò sông Cái ở bến Vĩnh Thịnh. Chuyện lạ mà có thật. Đêm hôm trước ngày thi Hương ông lái đò nằm mơ thấy có Thổ thần báo mộng rằng sáng mai chuyến đò đầu tiên phải chở người không có mắt qua sông. Nếu làm sai sẽ gặp vận hạn.

      Sáng ra đúng ngày phiên chợ bến đò tấp nập khách xuống. Ai cũng muốn sang ngay. Nhưng ông lái không chở nhất mực đuổi hết khách lên bờ. Mọi người thắc mắc thì ông khăng khăng một câu nói: “Đò tôi chuyến này chỉ chở một người không có mắt”. Khách đò lấy làm lạ cho là ông lái dở người. Vừa lúc ấy thì một thanh niên vai đeo túi gạo tay ôm lều chõng hơ hải đi tới. Người đó là Phí Văn Thuật.

       Phí Văn Thuật bước xuống đò vừa thở vừa khẩn khoản xin ông lái chở sang kẻo muộn. Ông lái vẫn một câu nói: “Đò tôi chỉ chở người không có mắt” rồi đuổi khách lên bờ. Phí Văn Thuật đứng nghĩ một lúc rồi cười: “Người đó chính là tôi đây”. Ông lái đò vặn lại: “Hai mắt anh thao láo thế kia sao lại bảo là không có mắt?”. Phí Văn Thuật giải thích: “Người không có mắt là nghĩa của ba chữ “Phất – Mục – Nhân”(*). Ba chữ ghép lại thành chữ “Phí”. Tôi họ Phí. Người không có mắt chính là tôi!”. Khách đi đò cũng bảo “Đúng anh ấy họ Phí đấy”. Ông lái đò hiểu ra và tin ngay rồi vui vẻ mời  một mình Phí Văn Thuật xuống đò và chở sang sông chuyến đầu tiên hôm đó.

       Khoa thi Hương năm ấy Phí Văn Thuật đỗ ngay Giải nguyên.

--------- 

(*). Ba chữ Phất – Mục – Nhân ghép lại thành chữ Phí:

                                                                                                           N. A. Đ

 

 

More...

Danh sư họ Phí

By Nguyễn Anh Đào

                                 Danh sư họ Phí ở Việt Trì

                                                                                  Nguyễn Anh Đào

Ông giáo Tiệp nguyên Hiệu trưởng trường Phổ thông cấp I xã Vân Phú nghỉ hưu đã gần 30 năm. Người dân phường Vân Phú thành phố Việt Trì hôm nay biết đến ông Tiệp chủ yếu là với vai trò “ông thủ từ” Trưởng ban quản lý đình làng Vân Luông một di tích cấp Quốc gia nằm trong quần thể khu di tích Đền Hùng. Ông còn là Trưởng ban Khuyến học của dòng họ ở khu vực Việt Trì một bộ phận của đại gia tộc Phí ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.

Mấy chục năm nay ông Tiệp được lãnh đạo và nhân dân địa phương tín nhiệm giao cho việc trông coi đình làng là bởi ông đọc viết được chữ Nho dịch nghĩa được thần tích thần phả. Đền Vân Luông thờ các vua Hùng đồng thời gắn với câu chuyện truyền thuyết về Thánh Tản Viên đi săn. Hàng năm làng tổ chức lễ hội thì cũng là những ngày ông Tiệp tất bật lo toan đến quên ăn quên ngủ. Trong ngôi nhà cấp 4 đơn sơ và nhỏ hẹp hàng ngày ông Tiệp pha nước tiếp khách xa gần. Người đến với ông phần nhiều có cuộc sống thanh bạch vô tư trọng đạo nghĩa. Có khi ông còn cho xem những sắc phong của triều đình phong kiến xưa ban cho các cụ dòng họ Phí những người có công khai sáng nền học vấn Nho học trên vùng quê Đất Tổ.

Theo lời ông Tiệp kể thì họ Phí lập nghiệp ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc từ đầu thế kỷ thứ VII khi nước ta còn bị Nhà Đường bên Trung Quốc cai trị. Từ đó họ Phí phát triển thành hai cành chính một ở Thái Bình một ở Sơn Tây nhưng gốc rễ vẫn là ở Thượng Trưng. Họ Phí ở Việt Trì hiện nay thuộc cành Thái Bình. Theo các nhà sử học thì ở Việt Nam duy nhất chỉ có một họ Phí. Dịp đầu năm vừa rồi họ Phí tổ chức gặp mặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám dưới sự điều hành của ông Phí Văn Chỉ nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga và ông Phí Thái Bình (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây) đang là Phó Chủ tịch thành phố Hà Nội để đọc bia tiến sĩ ôn lại truyền thống hiếu học của cha ông. Tại đây có hai vị tiến sĩ người họ Phí được lưu danh là Phí Văn Thuật đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) dưới triều Lê Thần Tông và Phí Quốc Thể đỗ tiến sĩ khoa Quý Hợi (1683) triều Lê Hy Tông.

Cụ tổ 6 đời của ông Phí Văn Tiệp là Phí Văn Sử người làng Thượng Tầm huyện Thanh Quan phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định. Nay là xã Đông Hoàng huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Ông vốn là người nổi tiếng học giỏi từng đỗ ba khoa Tú tài. Năm Thiệu Trị thứ II (1840) có sắc bổ làm Huấn đạo Phù Ninh (bao gồm cả thành phố Việt Trì ngày nay). Huyện lỵ lúc đó đóng ở làng An Lão tức xã Hùng Lô. Tên ông có trong bài minh khắc trên chuông lớn của đình Hùng Lô. Đến năm Tự Đức nguyên niên (1847) được thăng Giáo thụ phủ Đoan Hùng (tương đương trưởng phòng giáo dục). Trong thời gian đó cụ Phí Văn Sử đã có nhiều đóng góp trong việc mở trường dạy dỗ con em nhân dân kết quả đã có nhiều người đỗ đạt. Ngay khoa đầu từ khi cụ về nhậm chức ở Đoan Hùng đã có 1 người đỗ cử nhân 4 người đỗ tú tài. Công lao của cụ nức tiếng suốt giải ven sông từ ngã ba Hạc cho đến đầu Lô sông Chảy.

alt            Sắc bổ cụ Phí Văn Sử thăng Giáo thụ Đoan Hùng của triều đình Huế

5 năm sau vì tuổi cao sức yếu cụ Sử xin quy hưu trở về Thái Bình quê cũ. Cụ và gia nhân xuôi đò dọc đến làng Lâu Thượng (xã Trưng Vương) thì học trò nghe tin kéo ra mời thầy lên quán Chín Gian một ngôi quán cổ nằm ngay bên bờ sông để dân làng được thù tiếp. Cụ Sử bước lên thấy cờ quạt chiêng trống linh đình trong đó có cả cờ thần lá cờ chỉ xuất hiện trong những ngày tế lễ long trọng. Dân chúng có mặt rất đông trong đó có cả chức dịch địa phương. Mọi người chắp tay cúi đầu xin mời thầy lưu lại dạy học cho con em trong làng. Cảm động trước tấm lòng hiếu học và sự đón tiếp trọng vọng của người dân làng Lâu Thượng lại nể tình học trò cũ thầy Phí Văn Sử đã nhận ở lại một thời gian để dạy cho số người sắp ứng thí. (Như bây giờ gọi là luyện thi). Kết quả là khoa ấy có một người đỗ cử nhân một người đỗ tú tài. Tiếng đồn lan ra khắp nơi. Ở Lâm Thao cũng có người đến xin học.

Lúc đầu chỉ định lưu lại một thời gian nhưng vì thấy lòng dân trọng nghĩa học trò trọng đạo cụ Sử quyết định ở lại lập nghiệp nơi đây. Ngôi nhà ngói cũ sáu hàng chân tọa lạc trên một khu vườn rộng mà dân làng góp tiền mua cho cụ để vừa làm lớp học vừa kiêm luôn chỗ ở. Thế là họ Phí khởi phát với nghề dạy học trên đất Việt Trì bắt đầu từ đó.

Con cụ Phí Văn Sử là Phí Văn Tài nối nghiệp cha với nghề dạy học. Rồi đến cháu cụ Sử là Phí Văn Quyền vẫn theo nghề ấy. Họ Phí trở thành danh sư nức tiếng một vùng. Làng Vân Luông bằng mọi cách để đón được thầy Phí Văn Quyền lên dạy cho con em. Thầy quyền “gõ đầu trẻ” ở Vân Luông từ khi tóc còn xanh cho đến năm 70 tuổi ốm nặng dân làng võng về Lâu Thượng được ít ngày sau thì mất. Nhưng con giai thầy Quyền là Phí Văn Trừ ở lại lấy vợ ở Vân Luông cũng quyết không bỏ nghề dạy học. Ông dạy ở nhiều nơi bên Vĩnh Phúc như Liễn Sơn Như Thụy Yên Thạch Tam Sơn… Những ngày lễ ngày tết học trò kéo sang rất đông để lễ tết thầy. Con cụ Phí Văn Quyền là Phí Văn Tộ thân sinh ông Phí Văn Tiệp đỗ Sơ học yếu lược thời Pháp cũng từng dạy học ở xã Sông Lô.

Còn ông giáo Phí Văn Tiệp? Ông sinh ra và lớn lên giữa buổi giao thời. Tuổi trẻ ông học chữ Hán chữ Nôm của ông nội tiếp thu giáo lý Khổng Mạnh mà cốt lõi là tam cương ngũ thường. Lớn lên học trường Tây ở Việt Trì ông đỗ Sertibica (ngang lớp 9 bây giờ). Gia đình lo cho ông học lên để thi lấy bằng Thành chung thì vừa lúc Cách mạng tháng Tám bùng nổ rồi kháng chiến chống Pháp. Tuy là con giai độc nhất Phí Văn Tiệp vẫn xung phong đi bộ đội. Trong một trận chống càn ở Vĩnh Tường ông bị Tây bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò.

Hòa bình lập lại Phí Văn Tiệp trở về làng sau một cuộc trao trả tù binh. Trước đó gia đình ông đã nhận được giấy báo tử. Nghĩ mình dòng dõi gia sư sáu bảy đời liên tiếp gắn bó với nghề dạy học nay xuất ngũ cuốc không hay cày không biết làm sao để theo đít con trâu cày ruộng hợp tác được. Giữa lúc ngành giáo dục đang phát triển mạnh mẽ các nhà trường thiếu nhiều giáo viên ông Tiệp đã trình bày nguyện vọng của mình với ông Nguyễn Văn Truyền đang là hiệu trưởng trường Phổ thông cấp I xã Vân Phú và được ông Truyền tận tình giúp đỡ. Với trình độ văn hóa của ông Tiệp vào thời đó cũng là hiếm lắm. Cuối cùng ông được Ty Giáo dục Phú Thọ tuyển vào làm giáo viên dân lập. Bằng năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao luôn tận tụy với công việc thầy Phí Văn Tiệp được đề bạt làm hiệu trưởng cho đến năm  nghỉ hưu.

Khi tôi hỏi ông có học qua trường lớp sư phạm nào không thì ông Tiệp lắc đầu cười: “Không. Anh khác còn qua sư phạm gốc mít chứ tôi chả có gốc gì cả. Nhưng bồi dưỡng hè do cấp trên mở thì không vắng buổi nào”.

Ấy vậy mà những năm tháng dạy học của nhà giáo Phí Văn Tiệp đã để lại những tiếng thơm về nghề nghiệp về đạo đức người thầy trong lòng lớp lớp học trò cũng như cha mẹ họ. Nếu đem so sánh cuộc sống vật chất của một hiệu trưởng trường Tiểu học bây giờ với ông Tiệp thì khoảng cách khá xa. Phải chăng nhà giáo họ Phí đã hành nghề bằng cả tâm huyết của mình cùng với truyền thống dạy dỗ con người vì con người mà ông cha ông để lại.

                                                                                                     N. A. Đ

More...

Thơ Vũ Quốc Khánh

By Nguyễn Anh Đào

 

 

 

                                     Vũ Quốc Khánh ĐỜI LÍNH ĐỜI THƠ

 

                                                                                                                                                                                                                                        Nguyễn Anh Đào

 

Kỹ sư nông nghiệp Vũ Quốc Khánh  là người gắn bó với cây với rừng từng là Giám đốc Nông trường chè Thái Nguyên rồi tạt ngang sang làm Giám đốc một doanh nghiệp ở Thanh Sơn – Phú Thọ. Anh đã có hai tập thơ in và trở thành hội viên Liên hiệp Hội VHNT tỉnh. Đương nhiên người đọc nghĩ đến cái hồn thơ chủ đạo trong mỗi bài của Vũ Quốc Khánh phải là “Một tôm hai lá” là “Hương gây mùi nhớ” của trà rừng... Nhưng không hẳn thế. Hàng trăm bài thơ của Vũ Quốc Khán đều nói về thời gian anh cầm súng chiến đấu ở chiến trường miền Nam vào những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 1972 đến 1975. Đang là sinh viên đại học chàng trai vừa tròn 22 tuổi Vũ Quốc Khánh tạm biệt bạn bè thầy giáo lên đường vào Nam đánh Mỹ. Ngày đầu nhập ngũ lính mới hành quân bộ: “Đôi chân thư sinh bỡ ngỡ/ Rát phồng mọng nước tuột da/ Ba mươi cây số một đêm đã qua/ Ngâm nước muối đêm mai đi tiếp…) – Bài “Nhập ngũ” làm ngày 14-9/1972  hẳn là bài thơ đầu tay Vũ Quốc Khánh ghi lại kỷ niệm đời lính của mình. Cho đến bài “Tình lính” làm tại trường Đại học Nông nghiệp I ngày 10-11/1975 sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở lại trường xưa trong vòng tay bạn bè thầy giáo cùng với những niềm vui nỗi buồn: “Lớp học xưa thầy cũ vẫn chờ mong/ Ngày gặp lại nhắc người còn người mất”.

alt

Hơn ba năm trong quân ngũ giữa những ngày “ác chiến” đủ để cho hồn thơ của Vũ Quốc Khánh bay bổng qua những thử thách chiêm nghiệm giữa sự sống và cái chết giữa tình bạn chiến đấu và kẻ thù một mất một còn. Đôi chỗ phảng phất chí khí của người chinh phu “Gác bút nghiên theo việc đao cung”. Nhưng cái âm vang dữ dội của đạn pháo cái đói cơm đói rau và những cơn sốt rét rừng lại kéo anh trở về với thực tại. Và liền đó là nỗi nhớ trào lên. Anh nhớ trường nhớ lớp nơi từ đó anh mang ba lô mặc áo lính lên đường chiến đấu:

                  “Ở Trường Sơn nhớ giảng đường đại học

                   Tiếng đại bác gầm nhớ tiếng trống trường quen

                   Pháo sáng bừng trời địch bắn thâu đêm

                   Lại nhớ ánh đèn hội trường họp lớp…”.

Và anh ghi lại bằng thơ nỗi nhớ thời sinh viên của mình:

                  “Khoác ba lô lên vai nhớ thương cây bút

                   Viết câu thơ nhớ buổi hẹn hò

                   Tuổi sinh viên đầy ắp mộng mơ

                   Ở Trường Sơn luôn nhớ trường đại học”.

Nhưng da diết và sâu nặng nhất vẫn là nhớ mẹ nơi quê nhà: “Ngày xưa mẹ dạy nấu cơm/ Với niêu đất với rạ rơm quê mùa”. Còn bây giờ: “Con vào bộ đội gần năm/ Nấu cơm bằng chảo cho trăm lẻ người”. Cách con nấu cơm không như ngày xưa mẹ dạy. Nhưng “Con dù vất vả nắng mưa/ Vẫn như có mẹ sớm trưa theo cùng” – (Bài Mẹ). Những câu lục bát còn vương theo cả rơm rạ tro than trở thành hành trang của người lính chiến luôn nằm kỹ trong ba lô nặng trĩu trên vai. Cứ theo ý bài thơ thì tác giả có lần là anh nuôi. Không những thế có những ngày phải vào rừng lấy củi: “Trời mưa tầm tã rừng chiều/ Bấm chân gánh củi liêu xiêu đường lầy”. Sinh ra và lớn lên ở đồng bằng Tiên Lữ - Hưng Yên giờ lăn lộn với Trường Sơn gian lao hiểm trở nếu không có ý chí và quyết tâm lớn thì làm sao người thanh niên Vũ Quốc Khánh có thể vượt qua được. “Dẫu cho bầm tím đôi vai/ Cuộc đời quân ngũ hôm mai luyện rèn” – (Bài “Tự sự”). Cho nên đọc thơ anh ta càng khâm phục lớp thanh niên thời chống Mỹ. Họ ra trận với cả một niềm tin sắt đá vào ngày mai chiến thắng.

Có thể nói thơ Vũ Quốc Khánh trong tập Cánh võng lời ru (NXB Hội Nhà văn – 2008) là sự minh họa cho câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phới phới dậy tương lai” trong đó nổi bật lên hình ảnh người lính giải phóng với biết bao gian khổ nhưng vẫn lạc quan yêu đời. Đó là cảnh hành quân giữa rừng đại ngàn đi theo “vết mòn thú rừng cắt lối” người lính nhận biết qua giác quan nhạy cảm. “Thoáng mùi lạ biết là ta là địch…/ Vết dập cành đoán người thực người nghi” Và:

               “Giữa chằng chịt dây leo không có lối đi

                 Nhìn tán cây biết đông tây nam bắc

                 Vỏ đồ hộp biết là gần quân giặc

                 Theo ngọn rau rừng biết sắp gặp quân ta”. – (Bài “Đường rừng”).

Khi dừng chân nghỉ lại thì mái tăng trở thành mái nhà chở che cho giấc ngủ giữa hai trận đánh. Và anh chiến binh Vũ Quốc Khánh bồi hồi nhớ lại:

                “Từ bé lớn lên sống giữa đồng bằng

                  Mái rạ ấm che tôi qua mưa bão”.

Giờ thì:

                 “Giữa những cơn mưa rừng xối xả

                  Tôi yên lòng ngon giấc dưới mái tăng” – (Bài “Mái tăng”).

Đói rét bom đạn không làm chùn bước anh lính giải phóng mà ngược lại anh còn thi vị hóa nó. Tiếng kẽo kẹt của cánh võng nơi rừng xa “Trong giông mưa và tiếng gầm pháo giặc” anh vẳng nghe thấy tiếng ru hời của mẹ thuở ấu thơ. Gặp tiếng cười của cô giao liên tiếng cười “Như mềm đi tiếng gầm xe xích”. Giữa chiến trường ác liệt người lính vẫn nhận thấy Đêm Sanavan thật yên tĩnh và trăng ở đây sáng quá… Đem đối lập giữa bổng trầm lời ru với tiếng gầm của pháo giặc hay tiếng cười của cô gái với tiếng rít ghê rợn của xích xe và chính cái âm thanh chát chúa man rợ kia đã bị tiếng cười con gái và cái mềm mỏng của cánh võng lời ru làm cho vô hiệu hóa. Bằng những chi tiết độc đáo đó Vũ Quốc Khánh đã tìm ra một tứ lạ cho thơ. Nó nói lên tính lạc quan phơi phới của người chiến sĩ trong những năm tháng ác liệt chống quân thù. Ngộ hơn nữa là cảnh bộ đội “Tắm giữa mùa khô” cái mùa khô ác liệt ở Tây Trường Sơn “Nước khe cạn bướm bay lèn đá” trong thơ Phạm Tiến Duật. “Mấy ngày trời bụi bám chật lối đi/ Không tắm rửa lính hành quân ngang chạy”. Phải nói là bẩn! Thế rồi gặp suối các chú lính trẻ nhà ta ào xuống tắm… truồng. Hẳn là rất kỳ khi anh nọ nhìn anh kia nên mới có thơ “Bộ đội tắm cười rung cả Tây Nguyên”. Đó là cái cười vô tư và sảng khoái cười đến vỡ rừng vỡ suối chỉ có ở người lính trẻ.

Thơ Vũ Quốc Khánh nói nhiều đến các địa danh ở miền Nam thời chống Mỹ. Những Rừng Le Rừng Khộp Núi Cấm Bãi Khách A Sầu A Lưới Bồng Miêu… Những cái tên buôn tên làng đã đi vào ký ức một thời đối với những ai từng đặt chân đến. Ai đó có thể quên đi còn anh thì không. Dù lập nghiệp ở đất Thanh Sơn xa ngái vẫn nhớ về những nơi ấy không nguôi. Đọc thơ Vũ Quốc Khánh ta yêu biết mấy cái làng Vĩnh Chấp làng chiến tranh. Khi ấy chỉ có cát và trẻ em. Cát thì đã đành nó là sản phẩm tồi tệ của khí hậu miền trung khắc nghiệt. Nhưng sao lại chỉ có trẻ em? Vì người lớn “Ai còn sức đều ra phía trước/ Người cầm súng người cầm cầy cầm cuốc/ Bộ đội đến nhà thành khách của trẻ em” – (Bài “Vĩnh Chấp”).

Sinh ra và lớn lên ở đồng bằng nhưng mơ về rừng nên học Đại học Nông - Lâm. Gặp khi vận nước cần những người trai ra trận anh sinh viên Vũ Quốc Khánh sẵn sàng nhập ngũ. Quê hương sạch bóng quân thù trở về trường xưa học cho xong phần dang dở để rồi cầm mảnh bằng kỹ sư Lâm nghiệp tìm đến với rừng với chè rồi vừa kinh doanh sản xuất vừa làm thơ. Thơ Vũ Quốc Khánh nhiều bài đầu đề có chữ “rừng”: Đường rừng Mưa rừng Cái đói ở rừng Sốt rét rừng Giữa rừng gặp đồng hương Nhớ rừng Thương rừng Rừng và biển…  Đó là phác thảo của một đời thơ đời lính Vũ Quốc Khánh. Tuy mộc mạc thô ráp nhưng chân thành tha thiết ý thơ táo bạo như bước chân hành quân của người lính giải phóng năm xưa cùng với màu xanh suy nghĩ của một doanh nhân giàu tâm huyết say sưa với công việc đã làm nên hồn thơ Vũ Quốc Khánh sâu xa và ấn tượng.

 

                                                                                                   N. A. Đ

 

 

 

More...

Đàn bà trong phủ chúa

By Nguyễn Anh Đào

                               Sắc đẹp và bản lĩnh

          Chúa Trịnh Sâm có khoảng 400 vợ nhưng nổi tiếng chỉ có 3 người. Đó là chính phi Hoàng Thị Khoan người xinh đẹp tỏa hương thơm nên được gọi là Ngọc Hương. Tuy được Chúa yêu chiều nhưng nàng Khoan chỉ sinh được hai cô con gái là Ngọc Anh và Ngọc Lan. Mà trong xã hội phong kiến đã là phi tần mà không có con giai thì dẫu xinh đẹp đến đâu  vị thế cũng không có gì đảm bảo.

alt

          Người thứ hai là thứ phi Dương Ngọc Hoan. Ngọc Hoan không có tài sắc gì song nhờ có chị gái là cung tần của Trịnh Doanh tức bố Trịnh Sâm nên được kén vào cho Trịnh Sâm. Vì vậy nàng sống lạnh lẽo cô quạnh không được Sâm đoái hoài đến. Một đêm Ngọc Hoan nằm mơ thấy một vị thần đưa cho một tấm đoạn vẽ hình đầu rồng. Không hiểu là điềm gì nàng hỏi hoạn quan Khê Trung hầu. Ông này nói đó là điềm sinh chúa.

Hôm sau Trịnh Sâm cho vời Ngọc Khoan. Viên hoạn quan cố ý nghe lầm liền đưa Dương Ngọc Hoan đến. Thấy nàng Sâm có vẻ không thích nhưng không nỡ đuổi. Sau đêm đó Sâm gọi quan thị đến trách mắng. Khê Trung hầu đành chối quanh cho rằng mình nghe nhầm Khoan lại tưởng là Hoan. Và cũng sau lần đó Ngọc Hoan có thai rồi sinh ra Trịnh Tông.

          Người thứ ba là Đặng Thị Huệ. Huệ quê làng Phù Đổng huyện Đông Anh Bắc Ninh nay thuộc Hà Nội vốn con nhà dân thường là một nữ tỳ hầu hạ trong phủ chúa. Huệ rất xinh đẹp và duyên dáng lại có tài mẹo  quyến rũ đàn ông. Một hôm Huệ bưng một khay hoa đến trước mặt Chúa. Thấy Huệ mắt phượng mày ngài vẻ người hấp dẫn Trịnh Sâm liền đem lòng yêu mến đặc biệt. Nói về cách giao tiếp cùng bí thuật chốn phòng the thì tất cả những người vợ của Chúa đều không ai bằng. Với cung nữ khác chỉ vài lần là Chúa chán. Nhưng với Huệ chỉ một lần ân ái Trịnh Sâm đã cảm thấy mê mệt và như gắn chặt với nàng. Từ đó Huệ nói gì Sâm đều nghe và có việc gì Chúa cũng nói với Huệ. Thị Huệ được sống cùng một nơi với Chúa. Bữa ăn có Huệ Chúa ăn mới ngon miệng. Xe kiệu quần áo của Huệ đều được sắm sửa như đồ dùng của Chúa. Từ một nô tỳ Huệ được phong chức Tiệp dư rồi Tư dung và cao nhất là Tuyên phi. Từ đó Thị Huệ ngày càng lộng hành. Hễ có chuyện không vừa ý là xây xẩm mặt mày kêu khóc thảm thiết khiến Chúa rối lòng.

            Trịnh Sâm có viên ngọc dạ quang chiến lợi phẩm của một trận đánh phương Nam vẫn treo ở đầu khăn làm đồ trang sức. Một hôm Thị Huệ lấy tay mân mê viên ngọc. Chúa nói:
          - Nhè nhẹ tay kẻo sây sát!
          Thị Huệ liền ném viên ngọc xuống đất tru tréo kêu khóc:
         - Ngọc này chả là cái gì sất! Chẳng qua sai người vào Quảng Nam kiếm trả Chúa hạt khác là cùng. Sao Chúa nỡ trọng của khinh người làm vậy?
         Đoạn Thị Huệ bỏ ra ở cung khác từ chối không gặp Chúa nữa. Trịnh Sâm phải dỗ dành mãi Huệ mới chịu làm lành.
         Tuy sớm tối bên Chúa nhưng Huệ lâu có thai mặc dù uống đủ sâm nhung quế phụ rồi sai người lễ bái khắp các đền chùa mong sinh con thánh. Năm Đinh Dậu (1777) Huệ sinh con trai đặt tên là Cán được Chúa rất cưng chiều.

        Nhưng con của Ngọc Hoan là Trịnh Tông lúc này đã 15 tuổi. Sâm vì không yêu Ngọc Hoan nên không muốn lập Tông làm Thế tử. Nhân đó Thị Huệ tìm được người có thế lực trong phủ là Huy quận công Hoàng Đình Bảo rồi câu kết với người này để mưu phế Trịnh Tông lập Trịnh Cán lên ngôi chúa.
        Trịnh Tông thấy Chúa lạnh nhạt với mình lại biết được âm mưu của Đặng Thị Huệ và Quận Huy nhân Trịnh Sâm ốm nặng sắp chết phe Trịnh Tông liền bàn kế định bắt giam hai mẹ con Thị Huệ để giành ngôi chúa về mình. Không ngờ Trịnh Sâm lại khỏi bệnh việc bại lộ. Tông bị biếm truất làm con thứ và cùng mẹ là Ngọc Hoan bị tống giam. Phải đến khi Thái phi tức mẹ Trịnh Sâm xin cho mới được thả. Từ đó phe cánh của Thị Huệ ngày càng mạnh lấn át triều đình nhà Chúa.
        Thị Huệ hối thúc Trịnh Sâm lập Cán lên ngôi Thế tử. Bề tôi của Trịnh Sâm cũng a dua hùn vào. Nhưng vì Thái phi can ngăn nên Sâm chưa quyết. Cuối cùng do thúc giục của Huệ Trịnh Sâm lập Cán làm Thế tử dù Cán lúc này mới lên năm tuổi. Sâm dùng Quận Huy làm thầy dạy Cán.
         Trịnh Sâm bị bệnh trĩ luôn ở trong cung không bao giờ đi ra ngoài. Đặng Tuyên phi nhân cơ hội liền tự ý xếp đặt công việc gài tay chân giữ những cương vị then chốt trong phủ chúa. Lại sớm tối cặp kè với Hoàng Đình Bảo toan tính mọi việc. Vì thế trong dân chúng lan truyền câu:
Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy quận vào sờ chính cung
.
          Năm Tân Sửu (1781) bệnh tình của Sâm nặng thêm và qua đời. Thị Huệ thông đồng với Quận Huy lập Cán lên ngôi chúa. Tuyên phi nghiễm nhiên trở thành người điều khiển triều chính giúp con. Lòng người lo sợ từ phủ chúa ra kinh thành tới thôn dã ai cũng biết chắc hoạ loạn sẽ xảy ra.

          Quả như vậy. Tháng 10 năm Tân Sửu (1781) binh lính Tam phủ nổi loạn truất ngôi Cán đập phá nhà cửa giết Hoàng Đình Bảo cùng thân thuộc phe cánh. Họ đón Trịnh Tông lên ngôi vương phong là Nguyên soái Đoan Nam vương. Phe cánh Đặng Thị Huệ bị truy lùng và trả thù. Huệ bị truất xuống thứ nhân. Hôm việc biến xảy ra Đặng Thị Huệ khiếp sợ quá phải thay đổi quần áo nấp ở hậu cung. Trịnh Cán bị giáng xuống làm Cung quốc công rồi hơn tháng sau thì phát bệnh chết.
        Trịnh Tông lên ngôi Dương Ngọc Hoan được phong Thái phi liền sai người bắt Tuyên phi Đặng Thị Huệ hỏi tội buộc Huệ phải lạy tạ. Tuyên phi không chịu lạy Thái phi bèn sai hai thị nữ đứng kèm hai bên níu tóc Tuyên phi rập đầu xuống đất nhưng Huệ vẫn nhất định không chịu lạy mà cũng không nói nửa lời. Thái phi giận quá đánh đập một hồi nhổ nước bọt vào đầu vào mặt rồi đem giam vào nhà Hộ Tăng ở vườn sau. Tại đây Đặng Thị Huệ bị làm tình làm tội cực kỳ khổ sở.

         Một bữa Huệ trốn ra khỏi cửa Tuyên Vũ chạy đến bến đò phố Khách thì bị quân lính đuổi kịp. Khi giáp mặt với Thái Phi Thị Huệ nói: “Sao bà không nghĩ lại thân phận mình khi bị Chúa bỏ rơi. Rồi chuyện xẩy ra năm Canh Tý (1780 tức việc phe cánh Trịnh Tông định đoạt ngôi chúa bị bại lộ) lúc đó nếu tôi cũng ra tay thì bà sẽ ra sao?”. Bấy giờ Ngọc Hoan mới thôi.
        Sau một thời gian bị giam giữ ngặt Thị Huệ được cho làm cung tần nội thị vào Thanh Hóa hầu hạ lăng tẩm chúa Trịnh Sâm. Ở đây Thị Huệ ngày đêm gào khóc xin được chết theo chồng. Đến ngày giỗ của chúa Trịnh Sâm Tuyên phi uống thuộc độc mà chết.

         Một người đàn bà tài sắc tuyệt vời như Đặng Thị Huệ lại muốn tranh giành quyền lực mưu đồ chính trị nhưng đã thất bại vì Tuyên phi thiếu bản lĩnh tàn bạo của một Võ Tắc Thiên. Mà trên chính trường để giành lấy quyền lực thì sắc đẹp và mẹo thuật quyến rũ đàn ông chưa thể cho là đủ. Đành rằng thiên hạ đã có câu: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”.

More...

Chuyện nhàn đàm

By Nguyễn Anh Đào

                                Xuân – Thu chữ và nghĩa

         Hai chữ Xuân và Thu một khi đi liền nhau dù là người không biết chữ Hán thì cũng vẫn hiểu đó là tên gọi của hai mùa trong năm. Một năm có 4 mùa thì mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa có khi hậu tương đối ôn hòa. Sau những ngày đông giá mùa xuân đến tiết trời ấm áp cây cối đâm trồi nảy lộc đơm hoa kết trái. Mùa Thu tiếp sau mùa hạ tiết trời mát mẻ gió Bắc thổi về se lạnh. Hoa cúc nở vàng. Trái cam trái hồng chín rực… Mùa Xuân có ngày 21 tháng 3 mùa Thu có ngày 23 tháng 9 là hai ngày xuân phân và thu phân tức ngày mà ánh sáng mặt trời chiếu thẳng góc xuống xích đạo chia thời gian ngày và đêm ở hai bán cầu Bắc Nam bằng nhau.

alt

                                             Thời đại Xuân Thu

        Tóm lại mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa đáng yêu; hai chữ Xuân – Thu vì thế cũng luôn mang một khái niệm đẹp. Cha mẹ thường đặt tên cho con là Xuân hoặc Thu nếu không tên chính thì cũng là tên đệm. Ví như Xuân Diệu Xuân Hương Xuân Tình Xuân Hồng Xuân Mai… Hay như Thu Phương Thu Viễn Thu Phong Thu Hoài… Có người dùng cả làm tên chính và tên đệm như Xuân Thu (Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ - Đỗ Xuân Thu). Nếu Xuân Diệu có nghĩa là mùa xuân kỳ diệu Xuân Hương là hương mùa xuân Xuân Tình là mối tình mùa xuân thì Xuân Thu là chỉ có mùa xuân và mùa thu thôi. Vì thế mà Nhà thơ họ Đỗ còn có bút danh là Phi Đông Hạ có nghĩa là dứt khoát không phải mùa đông hay mùa hạ. Đó là cách ghép tên chính phụ để làm rõ một khái niệm. Nhưng Xuân tóc đỏ hay phở Xuân béo cà phê Thu còi thì lại khác. Trong trường hợp này người ta gắn vào tên gọi chính một đặc điểm về hình dáng hoặc nghề nghiệp của ai đó để dễ phân biệt.

        Cứ tưởng như vậy thì không có điều gì còn phải bàn. Thế nhưng có những trường hợp Xuân – Thu lại không phải là mùa xuân và mùa thu mà hai chữ Xuân - Thu lại mang một khái niệm khác vừa cụ thể vừa trừu tượng. Ví như: Xuân Thu là tên gọi một thời đại hay một giai đoạn lịch sử từ năm 722 đến 481 trước Công nguyên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ cuốn sử biên niên có tên gọi là Kinh Xuân Thu trong bộ ngũ kinh do Khổng Tử viết ra. Đó là thời kỳ chiến tranh liên miên nước nhỏ bị sáp nhập vào nước lớn. Thời kỳ đó việc học hành được mở rộng kỹ thuật tiến bộ trí thức phát triển. Tiếp sau thời Xuân Thu là thời Chiến Quốc kéo dài cho đến năm 256 trước Công nguyên thì các nước bị nhà Tần tiêu diệt chấm dứt thời kỳ phân tranh quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Trung Hoa. Vì vậy Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc có nghĩa là thời kỳ loạn lạc chiến tranh chinh phạt và thôn tính giữa các nước.

        Sau Kinh Xuân Thu của Khổng Tử còn có cuốn dã sử có tên gọi Phong Kiếm Xuân Thu nói về thời kỳ Tần Thủy Hoàng đánh dẹp các nước để thống nhất Trung Hoa.

        Ở Việt Nam vào thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn cũng có một cuốn sách mang tên Hoàng Việt Xuân Thu. Đây là cuốn lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống quân Minh của quân dân Đại Việt.

        Xuân – Thu có khi không hoàn toàn là ý nghĩa một giai đoạn lịch sử. Ví như: Lã Thị Xuân Thu một cuốn sách của Lã Bất Vi vị Thừa tướng nước Tần thời Chiến Quốc. Trong đó ông viết những điều mình biết mình thấy như trời đất muôn vật xưa nay…

        Xuân – Thu có khi lại chỉ những công việc thường kỳ diễn ra tuần tự trong năm như xuân thu nhị kỳ. Có khi là nói về sự quan tâm thăm viếng một cách thờ ơ lạnh nhạt đá gà đá vịt đối với một đối tượng nào đó. Nhưng trong các đạo sắc ở các đền miếu ghi Xuân Thu tế lễ thì lại phải hiểu là những ngày trọng lễ hàng năm phải tiến hành đầy đủ lễ nghi không được sơ sài. Đó là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đượm màu sắc hòa bình hoan lạc thường có ở các làng quê.

        Vào những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ trước ở nước ta một nhóm người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật theo một trường phái nhất định đã lấy tên là nhóm Xuân Thu Nhã Tập với các nhân vât tên tuổi như kịch sĩ Đoàn Phú Tứ thi sĩ Nguyễn Xuân Sanh nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung nhà văn Nguyễn Văn Hạnh nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Ngọc… Nhóm này hoạt động từ năm 1942 cho đến Cách mạng tháng 8 – 1945 đã gây được tiếng vang thời bấy giờ.

        Một ý nghĩa nữa của hai chữ Xuân – Thu là sự thay đổi của thời gian với những chuyển dời xê dịch khác nhau. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Xuân Thu biết đã đổi thay mấy lần” – câu 2858 ý nói cuộc đời nàng Kiều từ khi bán mình chuộc cha đến nay đã xẩy ra biết bao sự việc.

        Trên đây là những khái niệm khác nhau của hai chữ Xuân – Thu mặc dù trên tự dạng (chữ Hán () vẫn mang nghĩa mùa xuân và mùa thu nhưng lại được dùng với ý nghĩa không phải là mùa xuân và mùa thu nữa.

        Có thể còn có những ý nghĩa khác mà người viết bài này chưa tìm ra mong các bạn cùng phát hiện.

More...

Truyện lịch sử

By Nguyễn Anh Đào

 

 

 CỜ TANG ĐIỂM TƯỚNG

 

                                                                                                        Truyện lịch sử của Nguyễn Anh Đào

 

          Trời dã ngả chiều. Những cánh cò lấp loá từ ngoài bãi sông tìm về chốn ngủ bắt đầu chấp chới bên những rặng tre bao bọc quanh thành Mê Linh. Bà Man Thiện(1) ngồi tiếp khách trong phòng nhưng mắt vẫn nhìn ra phía cổng mong hai người con gái là Trắc và Nhị ra đi từ sáng sớm vẫn chưa thấy trở về.

          Khách đến nhà hôm nay là một thanh niên tuấn tú vóc người cân đối nở nang tuổi chừng ngoài đôi mươi. Chàng tên là Thi Sách con quan Lạc tướng ở huyện Chu Diên. Thi Sách đến Mê Linh lần này là lần thứ hai. Lần trước chàng theo cha đến đây với cung nỏ mũi lao nhưng chỉ đứng ngoài cửa chờ cha mình bàn bạc với chủ nhà trước khi phường săn của hai huyện vào cuộc đua tài. Còn lần này chàng đến với tư cách là một phi thủ quyết giật giải thắng thua. Hơn thế nữa Thi Sách còn thấy mình như một chàng rể tương lai của nhà họ Trưng hôm nay đến như một cuộc trình diện. Do vậy phải làm sao để thể hiện được mình ngõ hầu xiêu lòng ý trung nhân.

 

alt

 

 

Cha của Thi Sách vốn là bạn đồng cấp với chồng bà Man Thiện lại cùng chung gốc tích dòng dõi họ Hùng nên hai người từ nhỏ đã đi lại với nhau thân thiết. Hàng năm cứ vào dịp đầu xuân Mê Linh và Chu Diên lại tổ chức cuộc thi săn thú để tìm ra người dũng mãnh cùng những tay lao tay nỏ thiện xạ xung vào đội thân binh khi cần có thể mưu việc lớn. Sau mỗi cuộc thi săn hai vị Lạc tướng lại ngồi với nhau nhâm nhi chén rượu rồi luận bàn về thế sự. Câu chuyện cuối cùng bao giờ cũng xoay quanh tội ác của bọn quan lại nhà Hán đứng đầu là tên Thái thú Tô Định đối với dân Giao Chỉ.

Một lần cũng trong căn phòng này quan Lạc tướng huyện Mê Linh làm tiệc thịnh soạn để tiếp bạn. Chén rượu mới đưa lên ngang miệng Trưng Lạc tướng lại đặt xuống lắc đầu chán nản nói với khách:

- Lòng dân oán hận ngút trời không còn cam chịu được nữa. Nhưng tiếc rằng hai chúng ta đều già yếu tay kéo không nổi dây cung dáo vung không quá mặt nên đành phải bó tay. Buồn lắm!

 Quan Lạc tướng Chu Diên vuốt râu gật gù:

 - Bác đừng quá lo. Rồi cánh trẻ sẽ thay ta. Tre già măng mọc mà.

Trưng Lạc tướng vẫn rầu rầu nét mặt giọng bùi ngùi:

- Cánh trẻ à? Bác còn có hai cháu trai là Sách và  Bằng. Còn tôi chỉ sinh được hai gái. Mà con gái thì việc kiếm cung dáo mộc kham sao nổi.

          Tay vẫn cầm chén rượu đầy quan Lạc tướng huyện Chu Diên vươn người ghé sát vào quan Lạc tướng huyện Mê Linh nói nhỏ:

          - Bác sinh được hai gái tôi sinh được hai trai. Thế là có sự sắp đặt của ông trời rồi. Tôi xin bác đứa cháu đầu cho thằng Sách nhà tôi. Việc đòi lại giang sơn của họ Hùng ta giao cho hai trẻ nhất định sẽ thành.

           Quan Lạc tướng huyện Mê Linh như người tỉnh ngủ đập tay vào đùi bạn:

          - Bác nói thật trúng ý tôi. Từ nay hai nhà chúng ta như một! Nào ta cạn chén đi chứ rồi bàn việc lớn!

          Việc hai gia đình họ Thi và họ Trưng đang có thế lực nhất ở đất ở Mê Linh và Chu Diên nay lại kết thân với nhau làm cho thanh thế của hai nhà lan ra khắp quận Giao Chỉ vào cả tận Cửu Chân Nhật Nam. Nhiều người tìm đến hỏi thăm chúc mừng. "Quả là trai tài gái sắc đũa ngọc mâm vàng!".

          Bọn quan cai trị nhà Hán biết được chuyện đó chúng vừa dè chừng vừa tìm cách ngăn chặn. Nghe nói lại cả trên Thao Giang cũng có người đang tập hợp lực lượng để nỏi dậy chống lại chính quyền địa phương. Tô Định tức giận. Hắn ra lệnh điều quân lên ngay trên đó để đánh dẹp.

 

 

***

 

          Cuộc thi săn mùa xuân năm nay muộn hơn mọi năm vì quan Lạc tướng huyện Mê Linh mới qua đời. Còn quan Lạc tướng huyện Chu Diên thì gìà yếu nên chỉ cho hai con giai là Thi Sách và Thi Bằng cùng vài chục gia binh ngược sông Cái bằng những chiếc thuyền độc mộc lên đất Mê Linh.

          Trước khi bước xuống thuyền Thi Hùng nắm tay con giai là Thi Sách dặn dò:

          - Trưởng nữ của Trưng Lạc tướng tên là Trắc từ bé sống ở cố đô Phong Châu ngay cạnh chỗ Lầu Thượng do vua Tổ dựng lên. Trắc thạo nghề nuôi tằm chọn kén lớn lên theo cha về cai quản đất Mê Linh vốn là một trang thục nữ đảm đang khéo léo. Đó là người con gái mà cha nhằm kén cho con làm vợ. Cha đã ngỏ lời với Trưng Lạc tướng và được ông bà vui lòng chấp nhận. Nay con lên đó lựa dịp mà tỏ tình với người ta. Việc săn bắn là một nhẽ. Việc làm sao để mẹ con bà ấy cảm phục là điều con phải lưu tâm. Sau chuyến đi này cha sẽ tính chuyện làm đám cưới cho hai con sớm nên vợ nên chồng rồi sau đó thì cùng nhau gánh vác việc nhà việc nước cho trọn đạo làm trai.

          Thi Sách cúi đầu cảm tạ cha trong lòng dạt dào niềm vui và hạnh phúc.

          Tuy mới gặp nhau một lần trong chuyến đi săn trước nhưng trái tim đang độ nồng nàn say đắm của người con trai đất Chu Diên đã ôm trọn hình ảnh người con gái họ Trưng có khuôn mặt đẹp như trăng rằm cổ cao ba ngấn và dáng đi như phượng múa giọng nói tựa chuông ngân.

          Trăng thượng tuần đã lấp ló phía rặng tre. Tâm trạng của Thi Sách cũng giống như bà Man Thiện. Chàng vừa nói chuyện vừa nhìn ra ngoài ngóng đợi.

          Có tiếng chó xủa rồi tiếng gia nhân mở cổng. Sau đó là hai người con gái xấp xỉ nhau tuổi mười chín đôi mươi lại giống nhau như hai giọt nước. Cả hai đều gọn gàng và xinh đẹp nhẹ nhàng trên mình ngựa bước xuống.

          - Sao giờ này hai con mới về? - Bà Man Thiện hỏi.

          Người chị nghiêng đầu chào khách rồi chắp tay thưa:

          - Chúng con phải men theo bờ sông Như Nguyệt lên mãi trên đó mới gặp được chị Đoan. Nghe chị kể mà thấy trong lòng sôi lên sự căm giận bọn giặc Hán tàn bạo.

          - Đầu đuôi thế nào con kể lại cho mẹ và anh Sách nghe đi.

          Trưng Trắc kể:

          - Chị Đoan họ Trần người xứ Đông. Bố chị ấy làm quan từ thời vua Triệu chỉ vì bất bình với bọn quan lại nhà Hán mà bị Tô Định sát hại. Chị đã tập hợp những chị em có chồng con bị chúng bắt lên rừng lấy sừng tê xuống biển mò ngọc chai lập thành một đội nữ binh đi phá trị sở của bọn quan cai trị đòi trả chồng con về. Lực lượng lên tới hàng nghìn người nhưng cuối cùng vẫn không thắng được chúng lại còn bị chúng đàn áp đành phải nương náu chờ thời. Nay nghe tin hai nhà họ Thi và họ Trưng liên kết với nhau nên chị ấy muốn cùng hợp sức. Chúng con gặp nhau vừa tâm sự vừa bàn tính nên về muộn.

          Thi Sách ngồi trong phòng khách nghe xong mà thấy trong bụng như  mở cờ. Còn bà quả phụ chủ nhà thì cáo lui một cách tế nhị để con gái dược tự nhiên ngồi tiếp khách trai.

          Vốn quen biết nhau từ lần trước nên chỉ qua vài câu chuyện hỏi thăm ban đầu một cách chân tình cởi mở cả hai người đã thấy nặng lòng xao xuyến. Qua ánh mắt tình tứ qua cử chỉ nồng hậu của người con gái đất Mê Lunh Thi Sách càng thêm quyến luyến tưởng như không thể dời được nàng. Sau lời cầu hôn tha thiết của Thi Sách Trưng Trắc vừa e thẹn vừa sung sướng nhận lời. Hai người trao nhau khăn trầu kỷ niệm.

          Sáng hôm sau hội săn mở. Tuy có muộn hơn mọi năm nhưng trai tráng trong vùng nô nức vào cuộc đua tài số người dự có phần đông hơn lần trước. Ngày đầu cả hai bên chỉ mang về được những con hươu con nai con hoẵng.... Mong muốn của mọi người là phải săn được hổ dữ. Giải treo chỉ là cành cau lá dầu và vài vuông lụa nõn tơ tằm nhưng phúc lộc cả năm thì ai cũng mong đợi. Cho đến chiều ngày thứ ba thì bọn thân binh của Thi Sách khệ nệ khiêng về một con hổ đực to như con trâu mộng. Ở đầu ở bụng nó còn găm ngập vào những mũi lao có khắc tên Thi Sách. Mọi người nhìn chàng trai đất Chu Diên với ánh mắt đầy thán phục. Bà Man Thiện cũng mừng thầm vì con gái mình từ nay đã bén duyên được cùng với người con trai dũng cảm ấy.

          Nhưng có một điều bí mật mà không ai biết đến là khi đương đầu với mãnh hổ Thi Sách đã phải cố hết sức mình để chiến thắng. Chúa sơn lâm vào lúc cùng đường đã gầm lên nhào lộn rồi xông thẳng vào đối phương. Thi Sách tưởng chừng phải bó tay phó mặc cho số phận thì vừa lúc ấy có hai mũi tên bay trúng vào hai mắt con mãnh thú khiến nó khựng lại gầm rú tại chỗ nhờ đó mà chàng trai đất Chu Diên kịp trở ngang mũi lao phóng thẳng vào cổ họng nó. Con vật ngã đùng ra. Còn dũng sĩ thì ngửa người dựa vào gốc cây há miệng thở dốc hai mắt gần như nhắm lại. Người bắn hai mũi tên đó chính là con gái quan Lạc tướng đất Mê Linh.

          Trong lúc Thi Sách chưa kịp hoàn tỉnh nàng đã rút lấy hai mũi tên ở mắt con hổ có khắc tên mình rồi lặng lẽ ra khỏi hiện trường.

          Sau hội săn năm đó Thi Sách và Trưng Trắc đã thành vợ chồng đúng với ý nguyện của cha mẹ hai bên và nhân dân hai vùng đất. Lễ kết hôn của hai người khách khứa đông như hội. Không chỉ bạn bè thân thuộc mà cả những người chưa hề quen biết nhưng hâm mộ cô dâu chú rể từ khắp nơi cũng về dự để chúc mừng họ nên duyên chồng vợ. Cưới rồi nhưng ai vẫn ở tại quê của người ấy(2). Chỉ những con thuyền đuôi én lặng lẽ đưa Thi Sách từ Chu Diên về Mê Linh gặp vợ hoặc đưa Trưng Trắc từ Mê Linh về Chu Diên gặp chồng. Họ còn đi xa hơn không những vào tận Cửu Chân Nhật Nam mà còn lên cả Hợp Phố Nam Hải ngoài thì nói là đi tuần trăng mật nhưng thực ra họ đi để kể tội ác của Tô Định và vận động đồng bào nhất là chị em phụ nữ rèn vũ khí gom thóc gạo để chờ có dịp thì nổi dậy. Nhận lời hưởng ứng có chị Lê Chân ở vùng ven biển chị Đỗ Năng Tế chị Tạ Thị Cẩn ở chân núi Tản Viên chị Xuân Nương ở vùng Thao Giang. Đặc biệt là chị Trần Thị Đoan(3) ở xứ Đông bên bờ Như Nguyệt. Chị Đoan đã tập hợp được gần năm nghìn nữ binh ngày đêm tập luyện chỉ chờ nữ tướng họ Trưng phất cờ là một phen cùng nổi dậy.

          Tình hình đó khó bề che mắt được tên thái thú cáo già gian ác. Từ lâu hắn biết ở đất Mê Linh đang ngấm ngầm một ngọn lửa phản kháng chỉ cần một cơn gió thổi là bùng lên thiêu cháy cả tập đoàn thống trị nhà Hán trên đất Giao Chỉ. Vì vậy hắn tìm cách triệt phá. Việc đầu tiên là tiêu diệt lực lượng của Chu Diên cô lập Mê Linh bằng cách bất ngờ cho quân ập đến bắt Thi Sách đem chém đầu rồi bêu xác trước cổng thành. Tin dữ báo đến làm Trưng Trắc bàng hoàng đau đớn. Bà tự tay đánh trống đồng vang dội ra lệnh hợp binh quyết một phen trả thù chồng đền nợ nước. Thanh niên nam nữ khắp nơi kéo đến xin nhập vào nghĩa binh. Bà cho tập hợp lại phân chia thành đội ngũ cắt cử người chỉ huy. Trước hết Trưng Trắc chọn một đội cảm tử nhằm vào đêm tối trời lẻn đến cổng trại giặc cướp lấy xác Thi Sách mang về chôn cất. Khi đội ngũ đã tề chỉnh đông tới vài vạn Bà ra lệnh cho quân sĩ kéo lên cố đô Phong Châu đến bên bờ ngã ba  Bạch Hạc. Tại đây nữ tướng cho lập đàn thề uy nghi ngay bên bờ Lô Giang.

          Dưới bầu trời lồng lộng nơi có ba con sông dồn nước làm một Trưng Trắc ngửa mặt nhìn lên núi Nghĩa Lĩnh vái lạy các Tổ Vương rồi trỏ kiếm xuống sông cất vang lời thề nguyện quyết diệt tan giặc Tô Định trả nợ nước báo thù nhà.

          Sau lời thề sắt đanh đó tiếng trống đồng ầm ầm nổi lên hoà với tiếng cồng tiếng chiêng khua vang động cả một góc trời. Dân các nơi xung quanh nghe được ai nấy tay dao tay búa cầm nỏ cầm khiên cuồn cuộn đổ về quanh đàn thề xin cùng đi đánh giặc. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị tay cầm gươm mình mặc giáp trụ rực rỡ phía trước ngực là tấm hộ thân bằng đồng thau lấp lánh cùng với chiếc đai khoá đồng trông cực kỳ oai phong lẫm liệt. Hai bà cưỡi voi dẫn đầu đoàn quân bừng bừng khí thế từ Phong Châu dọc theo bờ sông Hồng tiến xuống phía nam tìm đến các phủ thành có bọn quạn lại Nhà Hán trị nhậm để khiêu chiến.

          Trước khi vào cuộc chiến sinh tử với kẻ thù có người tâu lên nữ tướng xin cho quân sĩ mang tang phục để trở chồng bà là Thi Sách vừa bị sát hại. Mọi người tưởng việc đó hợp với đạo nghĩa sẽ được bà đồng ý nhưng Trưng Trắc khảng khái nói:

          - Việc đánh bọn giặc Hán phải quyền biến. Nếu làm tiều tuỵ thì nhuệ khí ắt tàn theo. Ta mặc giáp phục lộng lẫy là để trăm họ trông thấy mà phấn khích xông lên và bọn giặc nhìn thấy phải khiếp nhược. Sau khi quét xong bọn giặc dữ ta sẽ cử đại tang lễ chồng ta.

          Sau lời nói bất hủ đó quân sĩ ai cũng cảm động cùng một lòng ào ạt xông lên tiếng hò reo vang trời dậy đất bám theo bước chân voi của chủ soái xông tới phá tan toà đô uý trên đất Mê Linh rồi lại ào ào như thác lũ kéo xuống Luy Lâu. Đoàn quân càng đi càng đông thêm. Trị sở của Giao Chỉ quận đã bị phá tan tành. Tên Thái thú Tô Định hoảng hốt run sợ phải lột bỏ mũ áo cắt râu tìm đường chạy trốn về tận Nam Hải. Trong lúc quân ta truy lùng bắt sống hắn để phanh thây xé xác thì tin tức khắp nơi từ Cửu Chân Nhật Nam Hợp Phố tới tấp bay về báo cho nữ chủ soái biết là 65 thành trì đã thuộc về nghĩa quân.

          Sau ngày toàn thắng Trưng Trắc bỏ giáp phục mặc tang phục trở chồng. Muôn dân Giao Chỉ tưng bừng mở hội mừng cuộc đại thắng đầu tiên của dân tộc. Trai gái khắp nơi vung rìu đồng khua dáo sắt đội mũ lông chim nhảy múa theo tiếng cồng chiêng rộn rã. Đó cũng là ngày người con gái quan Lạc tướng huyện Mê Linh được toàn thể nhân dân và quý tộc Lạc Việt tôn làm vua. (Sự kiện đó diễn ra vào mùa xuân năm Canh Tý (40) tức Kiến Vũ thứ 16 đời Hán Quang Vũ bên Trung Quốc).

          Giang Sơn của họ Hùng đã sạch bóng quân xâm lược.

          Trên đất cũ Mê Linh kinh đô của người Lạc Việt được dựng lên nguy nga tráng lệ. Trước cảnh tưng bừng của muôn dân vừa được giải phóng lại được triều đình miễn thuế ba năm ai cũng hồ hởi phấn khởi. Triệu người như một dành cho Nữ Vương lòng thành kính biết ơn. Nhưng lòng bà vẫn không vơi đi nỗi buồn nhớ đến người chồng tài đức cùng chung một chí hướng đã vì nghiệp lớn mà hiến trọn cả cuộc đời xuân trẻ.

          Hai nghìn năm sau mối tình của đôi trai tài gái sắc ấy vẫn như vầng trăng vằng vặc giữa trời. Với lòng cảm  thông sâu sắc một nữ sĩ thời nay đã có những câu thơ đầy xúc động nói về mối tình cao đẹp đó :

                            "Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

                             Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi.

                             Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá!

                             Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi..."(5).

_____________ 

(1). Man Thiện: Mẹ của hai bà Trưng được tôn là Man Hoàng Thái hậu có thần tích ở đền thờ Hai Bà

(2). Phải chăng đó là tàn dư của chế độ mẫu hệ?

(3). Tướng của hai Bà Trưng được phong là Thánh Thiên Công chúa có đền thờ ở Bắc Giang.

(4). Lấy trong sách Thiên Nam ngữ lục

(5). Thơ của Ngân Giang

 

                                                                                                                      

 

 

More...