Vĩnh biệt Nhà thơ Nguyễn Hỷ

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

NGUYỄN HỶ

Người đã "về qua giới hạn một vô cùng"

                                                                                Nguyễn Anh Đào

            Trung thu năm nay buồn!

Sáng nay 16 tháng 8 âm (23-9) bà con thôn Nỗ Lực xã Thụy Vân thành phố Việt Trì cùng bạn bè thơ văn đã bùi ngùi thương tiếc đưa tiễn Nhà thơ Nguyễn Hỷ về nơi an nghỉ vĩnh hằng. Anh đã "về qua giới hạn một vô cùng" như lời anh tâm niệm..

Cách đây ít lâu tôi có đến thăm anh ngồi với anh suốt một buổi sáng nghe anh đọc những bài thơ anh mới làm trong những ngày đi Trại sáng tác Tam Đảo. Có hôm anh dùng điện thoại đọc thơ cho tôi nghe có khi hàng nửa tiếng. Lúc đó có đâu ngờ trong người anh đang ủ bệnh rồi vội vã ra đi. Đành rằng cái từ "Ta về" trong bài "THƯƠNG" anh trở đi trở lại như nhắn gửi mọi người.

Anh đi như một ánh sao băng để lại những tia sáng tỏa ra từ lòng yêu thương vô bờ của một trái tim độ lượng và sâu nặgg tình nghĩa bạn bè.

"Ta về thương mối tình ta thơ dại

Thương mùa đông tê lạnh đến khôn cùng"

Anh đi "Dải chớp vắt ngang trời chiều để lại/ Cắp mảnh trăng thề hồn hiệp sĩ mênh mang". Anh đi nhưng hồn anh "hồn hiệp sĩ" vẫn mênh mang ở lại.

Nhớ anh tôi xin đưa lên trang Nhật ký điện tử cá nhân (blog) của mình bài tôi viết về anh khi anh còn khỏe.

Mong anh yên giấc ngàn thu!

 

 

             Cùng anh Nguyễn Hỷ trong những ngày ở Tam Đảo hè 2004

          

        NGUYỄN HỶ VÀ NHỮNG CÂU THƠ VÀNG ĐÁ

Cũng lâu lâu tôi lại mới có dịp đến thăm nhà thơ Nguyễn Hỷ ở xóm bờ sông thuộc xã Thụy Vân thành phố Việt Trì. Tôi gọi anh là nhà thơ đúng với thực chất của danh hiệu này cho dù anh chưa có tên trong tập kỷ yếu của Hội Nhà văn Việt Nam. Vì thơ anh đạt đến độ "nhuyễn" đủ sức lay động trái tim người đọc bởi những âm vang của thi tứ và khúc điệu của ngôn từ.

Thơ Nguyễn Hỷ không bộc trực một cách dễ dãi lại cũng không bí hiểm tới mức khó hiểu mà luôn đứng ở ranh giới giữa cái vô biên và sự giới hạn lấp loáng giữa hai bờ hư thực của một dòng sông với những tín hiệu vừa đủ cho người đọc lắng sâu cảm nhận. Nhưng lý giải một cách cặn kẽ thấu triệt thơ Nguyễn Hỷ không phải dễ. Người đọc chỉ có thể mơ hồ bằng cảm quan mà nhận biết cái hay của thơ anh như ta thưởng thức mùi dạ hương kỳ ảo mà không nhìn rõ cái khóm hoa khiêm nhường ấy nó khép nép ở góc nào trong khoảng vườn đêm thanh vắng.

Vẫn phong thái của một nghệ sĩ một trí thức làng đã ở vào tuổi dư thất thập Nguyễn Hỷ đó an nhiên và tự tại luôn coi cuộc đời như "bóng mỏng chân cầu" - (Bài Thị Mầu) như "phù vân một thoáng" - (Bài Lời cỏ). Tôi kính trọng Nguyễn Hỷ ở cái nhân cách của một kẻ sĩ suốt đời không chút bon chen không chạy theo danh vọng gác ngoài tai mọi tỵ hiềm đố kỵ...

Chưa vội rót rượu pha trà nhà thơ nhẹ nhàng lấy cho tôi xem phiến đá màu xanh cỡ vừa bằng tờ giấy khổ A4 anh vừa cho phép các con anh khắc vào đó bài "Thương". Bài thơ này có trong tập "Dải chớp vắt ngang trời" và "Con sóng tìm bờ" của tác giả từng được giải của Hội VHNT Vĩnh Phú được in trên Tuần báo Văn nghệ và một số báo tạp chí địa phương. Theo Nguyễn Hỷ đó là bài thơ mà anh tâm đắc nhất. Anh nói cả một đời thơ một đời người chỉ có mười hai câu của bài "Thương" là đáng khảm khắc vào bia đá để lại cho con cháu làm di bảo. Riêng tôi có cái duyên may gặp Nguyễn Hỷ được anh coi là bạn và "cho" thơ ngay từ đầu tôi cũng đã nhận ra cái chất đá chất vàng Nguyễn Hỷ trong bài "Thương" ấy.

                   "Ta về qua giới hạn một vô cùng

                   Thương những vì sao trong bình liu diu ngủ

                   Tựa ghế ngân hà đợi khách sang thăm

 

                   Ta về qua vô cùng xưa mông lung

                   Nghe gió rít chuyển mùa tun hút gọi

                   Đâu Tam tài Tứ tượng Lưỡng nghi ơi

 

                   Ta về thương một chuỗi dài năm tháng

                   Kiên nhẫn đếm có rạch ròi đen trắng

                   Thương mùa đông tê lạnh đến khôn cùng

 

                   Ta về thương mối tình ta thơ dại

                   Dải chớp vắt ngang trời chiều để lại

                   Cắp mảnh trăng thề hồn hiệp sỹ mênh mang.

                  

      Đứng đầu bốn khổ thơ là một kết cấu chủ - vị đơn giản: "Ta về" mà người đọc thường gặp đâu đó. "Ta về với mẹ ta thôi" - Đồng Đức Bốn - buồn thương và đau đớn; "Ta về ta nhớ những hoa cùng người" - Tố Hữu - bâng khuâng và lãng mạn. Còn "Ta về" của Nguyễn Hỷ nó như một cái cọc mốc đánh dấu giới hạn trong cuộc hành trình phiêu lãng của một đời người. Cuối cùng thì ta cũng phải về với chính ta sau những "chuỗi dài năm tháng" những "vô cùng xưa mông lung". Và ta còn lại cái gì? Thương! Chỉ thế thôi cũng đã là một sự viên mãn cho một kiếp người lận đận. Phải rồi! Ta "thương mối tình ta thơ dại". Thật quý biết bao cái tình thơ dại ấy! Thử hỏi trong mỗi chúng ta ai là người không có một mối tình để mà thương nhớ? Có nhiều đấy. Nhưng phải là cái mối tình thơ dại của "Thuở ban đầu"(1) dễ tin dễ yêu ấy nó mới trở thành vô giá mới kết đọng thành thơ. Lúc đó trước mắt ta là những thần tượng chói ngời. Ta ngưỡng vọng và tôn thờ để rồi ta cất cánh bay lên chín tầng mây có lúc tưởng mình như một vì sao bên dải Ngân Hà.

 


 

Hai người bạn già Nguyễn Hỷ và Nguyễn Như Miến vừa mới gặp nhau ngày nào.

Giờ "Ta về" lần lại chuỗi dài năm tháng mới nhìn rõ rạch ròi trắng đen của cuộc đời. Thì ra trong vũ trụ bao la ta chỉ là một "vì sao trong bình liu diu ngủ". Mọi ước mơ khát vọng đều không thoát ra khỏi quy luật chi phối nghiệt ngã của Tam tài Tứ tượng Lưỡng nghi(2)... Và trong cái vô cùng bao la của vũ trụ ấy luôn có giới hạn cho ta và cho mọi vật thể. Nhưng nhà thơ không nuối tiếc cái đã qua để rồi than khóc rên rỉ. Anh cũng không oán hận cuộc đời như tâm trạng một số người viết hồi ký về sự cả tin của mình khi xưa để rồi chửi đời chửi mình chối bỏ quá khứ. Anh hài lòng với nó chấp nhận nó và tìm lại cái thời xưa mông lung ấy và bắt gặp một "Dải chớp vắt ngang trời" lóe lên rồi vụt tắt để lại trong dáng chiều hình ảnh chàng hiệp sĩ nhưng tay không cầm khiên cầm dáo như chàng Đôn Kihôtê của Xécvăngtex hay vẫy vùng đội trời đạp đất như nhân vật Từ Hải "Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo" của Nguyễn Du mà chàng hiệp sĩ của Nguyễn Hỷ tay "cắp mảnh trăng thề" mang dấu ấn xưa năm tháng. Cái mảnh trăng ấy nhẹ lắm thanh mảnh lắm nhưng cái "hồn hiệp sĩ" đúng hơn cái tình thương của chàng mới mênh mang bao trùm lên tất cả.

Sức nặng của bài thơ dồn lại ở câu cuối này đã làm nên giá trị để đời của thơ Nguyễn Hỷ. Câu thơ mập mạp làm sao khi dáng hình của thi sĩ thì thanh mảnh và gầy guộc! Thật vô lý nhưng không hiểu sao nhìn dáng hình anh lúc giao lưu bè bạn tôi cứ thấy nó hao hao giống chữ THƯƠNG viết theo lối thư pháp hiện nay.

----------------  

(1). Thơ Thế Lữ: "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy".

(2). Tam tài Tứ tượng Lưỡng nghi: như thiên địa nhân thời tiết bốn mùa âm dương ngũ hành... những yếu tố chi phối thế giới con người theo triết lý Phương Đông.

                                                                                                                                                      N. A. Đ

 

Cầm Sơn

Qua trang Blogs Ông Giáo ven sông được biết tin buồn. Xin kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt Tiền bối - nhà thơ Nguyễn Hỷ!

Sơn Mai Nguyễn Như Miến

#

Bàng hoàng trước cái tin Nguyễn Hỷ đã ra đi "nhân sinh tại thế" "bóng câu qua cửa" có khác gì tia chớp nhưng anh đã để lại cả "Giải chớp vắt ngang trời" thì đó là điều ai không mơ ước.Chúc cho anh thỏa chí trong cõi vinh hằng.
Trời sinh ra Bá Nha tất sinh Tử Kỳ. Người Ven Sông xứng là Tử Kỳ thay bè bạn xa gần đã từng mến mộ Nguyễn Hỷ.
Sơn Mai Nguyễn Như Miến

Viết bởi Nguyễn Như Miến — 25 Sep 2010 14:25