Chuyện nhàn đàm

                                Xuân – Thu chữ và nghĩa

         Hai chữ Xuân và Thu một khi đi liền nhau dù là người không biết chữ Hán thì cũng vẫn hiểu đó là tên gọi của hai mùa trong năm. Một năm có 4 mùa thì mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa có khi hậu tương đối ôn hòa. Sau những ngày đông giá mùa xuân đến tiết trời ấm áp cây cối đâm trồi nảy lộc đơm hoa kết trái. Mùa Thu tiếp sau mùa hạ tiết trời mát mẻ gió Bắc thổi về se lạnh. Hoa cúc nở vàng. Trái cam trái hồng chín rực… Mùa Xuân có ngày 21 tháng 3 mùa Thu có ngày 23 tháng 9 là hai ngày xuân phân và thu phân tức ngày mà ánh sáng mặt trời chiếu thẳng góc xuống xích đạo chia thời gian ngày và đêm ở hai bán cầu Bắc Nam bằng nhau.

alt

                                             Thời đại Xuân Thu

        Tóm lại mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa đáng yêu; hai chữ Xuân – Thu vì thế cũng luôn mang một khái niệm đẹp. Cha mẹ thường đặt tên cho con là Xuân hoặc Thu nếu không tên chính thì cũng là tên đệm. Ví như Xuân Diệu Xuân Hương Xuân Tình Xuân Hồng Xuân Mai… Hay như Thu Phương Thu Viễn Thu Phong Thu Hoài… Có người dùng cả làm tên chính và tên đệm như Xuân Thu (Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ - Đỗ Xuân Thu). Nếu Xuân Diệu có nghĩa là mùa xuân kỳ diệu Xuân Hương là hương mùa xuân Xuân Tình là mối tình mùa xuân thì Xuân Thu là chỉ có mùa xuân và mùa thu thôi. Vì thế mà Nhà thơ họ Đỗ còn có bút danh là Phi Đông Hạ có nghĩa là dứt khoát không phải mùa đông hay mùa hạ. Đó là cách ghép tên chính phụ để làm rõ một khái niệm. Nhưng Xuân tóc đỏ hay phở Xuân béo cà phê Thu còi thì lại khác. Trong trường hợp này người ta gắn vào tên gọi chính một đặc điểm về hình dáng hoặc nghề nghiệp của ai đó để dễ phân biệt.

        Cứ tưởng như vậy thì không có điều gì còn phải bàn. Thế nhưng có những trường hợp Xuân – Thu lại không phải là mùa xuân và mùa thu mà hai chữ Xuân - Thu lại mang một khái niệm khác vừa cụ thể vừa trừu tượng. Ví như: Xuân Thu là tên gọi một thời đại hay một giai đoạn lịch sử từ năm 722 đến 481 trước Công nguyên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ cuốn sử biên niên có tên gọi là Kinh Xuân Thu trong bộ ngũ kinh do Khổng Tử viết ra. Đó là thời kỳ chiến tranh liên miên nước nhỏ bị sáp nhập vào nước lớn. Thời kỳ đó việc học hành được mở rộng kỹ thuật tiến bộ trí thức phát triển. Tiếp sau thời Xuân Thu là thời Chiến Quốc kéo dài cho đến năm 256 trước Công nguyên thì các nước bị nhà Tần tiêu diệt chấm dứt thời kỳ phân tranh quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Trung Hoa. Vì vậy Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc có nghĩa là thời kỳ loạn lạc chiến tranh chinh phạt và thôn tính giữa các nước.

        Sau Kinh Xuân Thu của Khổng Tử còn có cuốn dã sử có tên gọi Phong Kiếm Xuân Thu nói về thời kỳ Tần Thủy Hoàng đánh dẹp các nước để thống nhất Trung Hoa.

        Ở Việt Nam vào thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn cũng có một cuốn sách mang tên Hoàng Việt Xuân Thu. Đây là cuốn lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống quân Minh của quân dân Đại Việt.

        Xuân – Thu có khi không hoàn toàn là ý nghĩa một giai đoạn lịch sử. Ví như: Lã Thị Xuân Thu một cuốn sách của Lã Bất Vi vị Thừa tướng nước Tần thời Chiến Quốc. Trong đó ông viết những điều mình biết mình thấy như trời đất muôn vật xưa nay…

        Xuân – Thu có khi lại chỉ những công việc thường kỳ diễn ra tuần tự trong năm như xuân thu nhị kỳ. Có khi là nói về sự quan tâm thăm viếng một cách thờ ơ lạnh nhạt đá gà đá vịt đối với một đối tượng nào đó. Nhưng trong các đạo sắc ở các đền miếu ghi Xuân Thu tế lễ thì lại phải hiểu là những ngày trọng lễ hàng năm phải tiến hành đầy đủ lễ nghi không được sơ sài. Đó là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đượm màu sắc hòa bình hoan lạc thường có ở các làng quê.

        Vào những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ trước ở nước ta một nhóm người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật theo một trường phái nhất định đã lấy tên là nhóm Xuân Thu Nhã Tập với các nhân vât tên tuổi như kịch sĩ Đoàn Phú Tứ thi sĩ Nguyễn Xuân Sanh nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung nhà văn Nguyễn Văn Hạnh nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Ngọc… Nhóm này hoạt động từ năm 1942 cho đến Cách mạng tháng 8 – 1945 đã gây được tiếng vang thời bấy giờ.

        Một ý nghĩa nữa của hai chữ Xuân – Thu là sự thay đổi của thời gian với những chuyển dời xê dịch khác nhau. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Xuân Thu biết đã đổi thay mấy lần” – câu 2858 ý nói cuộc đời nàng Kiều từ khi bán mình chuộc cha đến nay đã xẩy ra biết bao sự việc.

        Trên đây là những khái niệm khác nhau của hai chữ Xuân – Thu mặc dù trên tự dạng (chữ Hán () vẫn mang nghĩa mùa xuân và mùa thu nhưng lại được dùng với ý nghĩa không phải là mùa xuân và mùa thu nữa.

        Có thể còn có những ý nghĩa khác mà người viết bài này chưa tìm ra mong các bạn cùng phát hiện.