Thơ Vũ Quốc Khánh

 

 

 

                                     Vũ Quốc Khánh ĐỜI LÍNH ĐỜI THƠ

 

                                                                                                                                                                                                                                        Nguyễn Anh Đào

 

Kỹ sư nông nghiệp Vũ Quốc Khánh  là người gắn bó với cây với rừng từng là Giám đốc Nông trường chè Thái Nguyên rồi tạt ngang sang làm Giám đốc một doanh nghiệp ở Thanh Sơn – Phú Thọ. Anh đã có hai tập thơ in và trở thành hội viên Liên hiệp Hội VHNT tỉnh. Đương nhiên người đọc nghĩ đến cái hồn thơ chủ đạo trong mỗi bài của Vũ Quốc Khánh phải là “Một tôm hai lá” là “Hương gây mùi nhớ” của trà rừng... Nhưng không hẳn thế. Hàng trăm bài thơ của Vũ Quốc Khán đều nói về thời gian anh cầm súng chiến đấu ở chiến trường miền Nam vào những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 1972 đến 1975. Đang là sinh viên đại học chàng trai vừa tròn 22 tuổi Vũ Quốc Khánh tạm biệt bạn bè thầy giáo lên đường vào Nam đánh Mỹ. Ngày đầu nhập ngũ lính mới hành quân bộ: “Đôi chân thư sinh bỡ ngỡ/ Rát phồng mọng nước tuột da/ Ba mươi cây số một đêm đã qua/ Ngâm nước muối đêm mai đi tiếp…) – Bài “Nhập ngũ” làm ngày 14-9/1972  hẳn là bài thơ đầu tay Vũ Quốc Khánh ghi lại kỷ niệm đời lính của mình. Cho đến bài “Tình lính” làm tại trường Đại học Nông nghiệp I ngày 10-11/1975 sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở lại trường xưa trong vòng tay bạn bè thầy giáo cùng với những niềm vui nỗi buồn: “Lớp học xưa thầy cũ vẫn chờ mong/ Ngày gặp lại nhắc người còn người mất”.

alt

Hơn ba năm trong quân ngũ giữa những ngày “ác chiến” đủ để cho hồn thơ của Vũ Quốc Khánh bay bổng qua những thử thách chiêm nghiệm giữa sự sống và cái chết giữa tình bạn chiến đấu và kẻ thù một mất một còn. Đôi chỗ phảng phất chí khí của người chinh phu “Gác bút nghiên theo việc đao cung”. Nhưng cái âm vang dữ dội của đạn pháo cái đói cơm đói rau và những cơn sốt rét rừng lại kéo anh trở về với thực tại. Và liền đó là nỗi nhớ trào lên. Anh nhớ trường nhớ lớp nơi từ đó anh mang ba lô mặc áo lính lên đường chiến đấu:

                  “Ở Trường Sơn nhớ giảng đường đại học

                   Tiếng đại bác gầm nhớ tiếng trống trường quen

                   Pháo sáng bừng trời địch bắn thâu đêm

                   Lại nhớ ánh đèn hội trường họp lớp…”.

Và anh ghi lại bằng thơ nỗi nhớ thời sinh viên của mình:

                  “Khoác ba lô lên vai nhớ thương cây bút

                   Viết câu thơ nhớ buổi hẹn hò

                   Tuổi sinh viên đầy ắp mộng mơ

                   Ở Trường Sơn luôn nhớ trường đại học”.

Nhưng da diết và sâu nặng nhất vẫn là nhớ mẹ nơi quê nhà: “Ngày xưa mẹ dạy nấu cơm/ Với niêu đất với rạ rơm quê mùa”. Còn bây giờ: “Con vào bộ đội gần năm/ Nấu cơm bằng chảo cho trăm lẻ người”. Cách con nấu cơm không như ngày xưa mẹ dạy. Nhưng “Con dù vất vả nắng mưa/ Vẫn như có mẹ sớm trưa theo cùng” – (Bài Mẹ). Những câu lục bát còn vương theo cả rơm rạ tro than trở thành hành trang của người lính chiến luôn nằm kỹ trong ba lô nặng trĩu trên vai. Cứ theo ý bài thơ thì tác giả có lần là anh nuôi. Không những thế có những ngày phải vào rừng lấy củi: “Trời mưa tầm tã rừng chiều/ Bấm chân gánh củi liêu xiêu đường lầy”. Sinh ra và lớn lên ở đồng bằng Tiên Lữ - Hưng Yên giờ lăn lộn với Trường Sơn gian lao hiểm trở nếu không có ý chí và quyết tâm lớn thì làm sao người thanh niên Vũ Quốc Khánh có thể vượt qua được. “Dẫu cho bầm tím đôi vai/ Cuộc đời quân ngũ hôm mai luyện rèn” – (Bài “Tự sự”). Cho nên đọc thơ anh ta càng khâm phục lớp thanh niên thời chống Mỹ. Họ ra trận với cả một niềm tin sắt đá vào ngày mai chiến thắng.

Có thể nói thơ Vũ Quốc Khánh trong tập Cánh võng lời ru (NXB Hội Nhà văn – 2008) là sự minh họa cho câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phới phới dậy tương lai” trong đó nổi bật lên hình ảnh người lính giải phóng với biết bao gian khổ nhưng vẫn lạc quan yêu đời. Đó là cảnh hành quân giữa rừng đại ngàn đi theo “vết mòn thú rừng cắt lối” người lính nhận biết qua giác quan nhạy cảm. “Thoáng mùi lạ biết là ta là địch…/ Vết dập cành đoán người thực người nghi” Và:

               “Giữa chằng chịt dây leo không có lối đi

                 Nhìn tán cây biết đông tây nam bắc

                 Vỏ đồ hộp biết là gần quân giặc

                 Theo ngọn rau rừng biết sắp gặp quân ta”. – (Bài “Đường rừng”).

Khi dừng chân nghỉ lại thì mái tăng trở thành mái nhà chở che cho giấc ngủ giữa hai trận đánh. Và anh chiến binh Vũ Quốc Khánh bồi hồi nhớ lại:

                “Từ bé lớn lên sống giữa đồng bằng

                  Mái rạ ấm che tôi qua mưa bão”.

Giờ thì:

                 “Giữa những cơn mưa rừng xối xả

                  Tôi yên lòng ngon giấc dưới mái tăng” – (Bài “Mái tăng”).

Đói rét bom đạn không làm chùn bước anh lính giải phóng mà ngược lại anh còn thi vị hóa nó. Tiếng kẽo kẹt của cánh võng nơi rừng xa “Trong giông mưa và tiếng gầm pháo giặc” anh vẳng nghe thấy tiếng ru hời của mẹ thuở ấu thơ. Gặp tiếng cười của cô giao liên tiếng cười “Như mềm đi tiếng gầm xe xích”. Giữa chiến trường ác liệt người lính vẫn nhận thấy Đêm Sanavan thật yên tĩnh và trăng ở đây sáng quá… Đem đối lập giữa bổng trầm lời ru với tiếng gầm của pháo giặc hay tiếng cười của cô gái với tiếng rít ghê rợn của xích xe và chính cái âm thanh chát chúa man rợ kia đã bị tiếng cười con gái và cái mềm mỏng của cánh võng lời ru làm cho vô hiệu hóa. Bằng những chi tiết độc đáo đó Vũ Quốc Khánh đã tìm ra một tứ lạ cho thơ. Nó nói lên tính lạc quan phơi phới của người chiến sĩ trong những năm tháng ác liệt chống quân thù. Ngộ hơn nữa là cảnh bộ đội “Tắm giữa mùa khô” cái mùa khô ác liệt ở Tây Trường Sơn “Nước khe cạn bướm bay lèn đá” trong thơ Phạm Tiến Duật. “Mấy ngày trời bụi bám chật lối đi/ Không tắm rửa lính hành quân ngang chạy”. Phải nói là bẩn! Thế rồi gặp suối các chú lính trẻ nhà ta ào xuống tắm… truồng. Hẳn là rất kỳ khi anh nọ nhìn anh kia nên mới có thơ “Bộ đội tắm cười rung cả Tây Nguyên”. Đó là cái cười vô tư và sảng khoái cười đến vỡ rừng vỡ suối chỉ có ở người lính trẻ.

Thơ Vũ Quốc Khánh nói nhiều đến các địa danh ở miền Nam thời chống Mỹ. Những Rừng Le Rừng Khộp Núi Cấm Bãi Khách A Sầu A Lưới Bồng Miêu… Những cái tên buôn tên làng đã đi vào ký ức một thời đối với những ai từng đặt chân đến. Ai đó có thể quên đi còn anh thì không. Dù lập nghiệp ở đất Thanh Sơn xa ngái vẫn nhớ về những nơi ấy không nguôi. Đọc thơ Vũ Quốc Khánh ta yêu biết mấy cái làng Vĩnh Chấp làng chiến tranh. Khi ấy chỉ có cát và trẻ em. Cát thì đã đành nó là sản phẩm tồi tệ của khí hậu miền trung khắc nghiệt. Nhưng sao lại chỉ có trẻ em? Vì người lớn “Ai còn sức đều ra phía trước/ Người cầm súng người cầm cầy cầm cuốc/ Bộ đội đến nhà thành khách của trẻ em” – (Bài “Vĩnh Chấp”).

Sinh ra và lớn lên ở đồng bằng nhưng mơ về rừng nên học Đại học Nông - Lâm. Gặp khi vận nước cần những người trai ra trận anh sinh viên Vũ Quốc Khánh sẵn sàng nhập ngũ. Quê hương sạch bóng quân thù trở về trường xưa học cho xong phần dang dở để rồi cầm mảnh bằng kỹ sư Lâm nghiệp tìm đến với rừng với chè rồi vừa kinh doanh sản xuất vừa làm thơ. Thơ Vũ Quốc Khánh nhiều bài đầu đề có chữ “rừng”: Đường rừng Mưa rừng Cái đói ở rừng Sốt rét rừng Giữa rừng gặp đồng hương Nhớ rừng Thương rừng Rừng và biển…  Đó là phác thảo của một đời thơ đời lính Vũ Quốc Khánh. Tuy mộc mạc thô ráp nhưng chân thành tha thiết ý thơ táo bạo như bước chân hành quân của người lính giải phóng năm xưa cùng với màu xanh suy nghĩ của một doanh nhân giàu tâm huyết say sưa với công việc đã làm nên hồn thơ Vũ Quốc Khánh sâu xa và ấn tượng.

 

                                                                                                   N. A. Đ

 

 

 

Cầm Sơn

Lại xin ông Giáo bài này mang về nhà. Chúc ông luôn mạnh khỏe vui vẻ!