Tiến sĩ Phí Văn Thuật

                             Giai thoại về ngôi mộ cổ và

                            Tiến sĩ Phí Văn Thuật đi thi

                                                     Nguyễn Anh Đào

         Ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) có một vị danh nho tên là Phí Văn Thuật. Ông là con trưởng Tri huyện Từ Liêm Phí Như Kiều. Thuở nhỏ học giỏi thần đồng cha mất sớm phải sống trong cảnh bần hàn. Mãi tới năm 21 tuổi Phí Văn Thuật mới đi thi Hương lần đầu. Ông đỗ Giải nguyên khoa Kỷ Mão (1639). Năm sau thi Hội qua 4 kỳ đều đỗ danh sách thứ nhất: Hội nguyên rồi dự kỳ sách vấn đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (Tiến sĩ) khoa Canh Dần (1640) đời Lê Thần Tông. Khi vào dự kỳ thi ứng chế trước sân rồng nhà vua tự ra đề. Bài của ông được chấm thứ nhất nên lúc bấy giờ người đời tôn ông là Tứ nguyên (4 lần đỗ đầu). Tên ông được khắc ghi trên bia số 35 ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội lập ngày 16 – 11 năm Thịnh Đức thứ I (1693).

       Xuất thân làm quan Phí Văn Thuật được phong chức Tự khanh ở Thái bộc tự phẩm trật hàng chánh ngũ phẩm được nhà vua ban tước Nam lấy chữ “Trưng” của tên làng quê để đặt tước hiệu là “Trưng Thọ Nam”. Ông là cháu ngoại Tiến sĩ Bùi Hoằng thời Mạc chú của Tiến sĩ Phí Quốc Thể đời vua Lê Hy Tông. Họ Phí có đền thờ Tiến sĩ Phí Văn Thuật ở xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường) với tên gọi “Tứ Nguyên Từ” trong hậu cung có bức biểu hoành bốn chữ “Văn Hiến Khả Trưng” và đôi câu đối:

       “Ngư tễ bách niên truyền đạo mạch

       Liên đàm vạn cổ dẫn thư hương”

       (Gò Con cá trăm năm còn lưu truyền mạch đạo

       Đầm Sen muôn đời dẫn dắt con đường thi thư khoa bảng).

       Để hiểu đầy đủ về đôi câu đối trên tôi phải đi hỏi ông Phí Văn Tiệp nhà giáo nghỉ hưu ở làng Vân Luông (Việt Trì - Phú Thọ) người hàng năm vẫn về Thượng Trưng để họp họ và tế tổ kể lại cho nghe câu chuyện về ngôi mộ tổ họ Phí đặt ở gò Con Cá cạnh đầm sen ở thôn Hòa Lạc xã Tân Cương (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc). Câu chuyện như sau:

       Theo người dân Thượng Trưng truyền lại thì từ xa xưa họ Bùi và họ Phí vốn là vọng tộc nhiều đời vẫn kết thông gia. Bùi Thủ Trân có con gái lấy chồng họ Phí. Cuối năm ấy con giai Bùi Thủ Trân là Bùi Phúc Diễn và con dâu họ Phí cùng đi đón thầy địa lý tìm đất để mả. Chỗ tìm được thuộc đất họ Bùi có thế “Quần ngư dịch tễ” – Đàn cá săn mồi - có thể phát đỗ 2 tiến sĩ nhưng khi đặt di cốt phải có 3 điều kiện: Táng đúng lúc giao thừa – Đúng ngày sát sư – Người phân kim phải là người qua đường đội nón sắt. Hai điều kiện trên thì dễ. Đúng nửa đêm 30 tết thầy địa lý vắng mặt là được. Nhưng người đặt tiểu phải đội nón sắt thì quả khó.

       Trong khi người con giai của Bùi Thủ Trân đang bận việc thì người con dâu họ Phí liền chuyển di cốt bố chồng đến nơi đất kết vừa tìm được và ngồi chờ. Mãi đến khi sắp sang canh mà vẫn không thấy có ai đội nón sắt đi qua. Mọi người đang thất vọng chán nản thì bỗng thấy một bóng đen lù lù xuất hiện trên đường. Tưởng ai hóa ra người làng Dận Tự bên cạnh đi ăn trộm về. Hai vai anh ta còn đeo lủng lẳng những chiếc bánh chưng bốc khói. Còn hai tay thì nâng cái chảo gang luộc bánh trên đầu. Hẳn là tên trộm này đã nẫng cả nồi bánh chưng tết của nhà ai đó.

       Người con gái Bùi Thủ Trân tức con dâu họ Phí mừng quá. Đúng là người đội nón sắt đây rồi liền quỳ xuống xin người đó giúp cho một việc hệ trọng. Tưởng mình bị bắt quả tang người kia sợ quá van xin được tha. Sau khi nghe rõ đầu đuôi liền thú thực mình chỉ là tên ăn trộm. Cũng vì nhà nghèo quá không có gì thờ tết cực chẳng đã nên phải làm thế chứ nào có biết gì về địa lý mà bảo đặt hướng mồ mả.

       Người con dâu họ Phí vẫn van nài. Chối không nổi người ăn trộm liền thò chân xuống huyệt gạt chiếc tiểu cho xê dịch một tý rồi mới đi. Người nhà họ Phí cám ơn rồi đắp lên thành mộ. Không ngờ cái gạt chân của tên kẻ trộm lại phân thành mạch “Tọa càn hương tốn” đúng như lời thầy Tàu phán.

alt

                 Mổ tổ họ Phí ở gò Con Cá

       Ngay sau đó Bùi Phúc Diễn cũng đem di cốt của bố là Bùi Thủ Trân đến chỗ đất kết để đặt thì thấy chỗ ấy đã có mộ. Người họ Bùi bảo nhau đào bỏ. Nhưng có người can ngăn là không nên để giữ âm đức. Họ Bùi đành rước di cốt Bùi Thủ Trân về ký táng tại xứ Gò Chám để lại đón thầy tìm đất khác. Nhưng chỉ mấy ngày sau bỗng nhiên chỗ ấy mối đùn đắp lên thành một ngôi mộ lớn. Họ Bùi cả mừng khi biết chỗ ký táng chỉ là vô tình nhưng lại chính là nơi quý địa. Thế là cả họ Bùi và họ Phí đều phát mộ và hai họ vẫn đời đời kết tình thông gia và con cháu thay nhau đỗ đạt. Họ Bùi và họ Phí đều có hai tiến sĩ Nho học. Họ Bùi có Bùi Hoằng và Bùi Công Tổn. Họ Phí có Phí Văn Thuật và Phí Văn Thể.

        Chuyện “Người không có mắt”:

      Mồ côi cha nhà nghèo 21 tuổi nho sinh Phí Văn Thuật vẫn lận đận việc mưu sinh. Khoa thi Hương Kỷ Mão (1639) ở trấn Sơn Tây. Ngày mai đã là ngày vào trường nhất mà cả đêm ấy Phí Văn Thuật vẫn phải chạy tiền chạy gạo. Mãi cho đến khi trời vừa sáng mới lo đủ.

      Đường từ Thượng Trưng sang Sơn Tây phải qua đò sông Cái ở bến Vĩnh Thịnh. Chuyện lạ mà có thật. Đêm hôm trước ngày thi Hương ông lái đò nằm mơ thấy có Thổ thần báo mộng rằng sáng mai chuyến đò đầu tiên phải chở người không có mắt qua sông. Nếu làm sai sẽ gặp vận hạn.

      Sáng ra đúng ngày phiên chợ bến đò tấp nập khách xuống. Ai cũng muốn sang ngay. Nhưng ông lái không chở nhất mực đuổi hết khách lên bờ. Mọi người thắc mắc thì ông khăng khăng một câu nói: “Đò tôi chuyến này chỉ chở một người không có mắt”. Khách đò lấy làm lạ cho là ông lái dở người. Vừa lúc ấy thì một thanh niên vai đeo túi gạo tay ôm lều chõng hơ hải đi tới. Người đó là Phí Văn Thuật.

       Phí Văn Thuật bước xuống đò vừa thở vừa khẩn khoản xin ông lái chở sang kẻo muộn. Ông lái vẫn một câu nói: “Đò tôi chỉ chở người không có mắt” rồi đuổi khách lên bờ. Phí Văn Thuật đứng nghĩ một lúc rồi cười: “Người đó chính là tôi đây”. Ông lái đò vặn lại: “Hai mắt anh thao láo thế kia sao lại bảo là không có mắt?”. Phí Văn Thuật giải thích: “Người không có mắt là nghĩa của ba chữ “Phất – Mục – Nhân”(*). Ba chữ ghép lại thành chữ “Phí”. Tôi họ Phí. Người không có mắt chính là tôi!”. Khách đi đò cũng bảo “Đúng anh ấy họ Phí đấy”. Ông lái đò hiểu ra và tin ngay rồi vui vẻ mời  một mình Phí Văn Thuật xuống đò và chở sang sông chuyến đầu tiên hôm đó.

       Khoa thi Hương năm ấy Phí Văn Thuật đỗ ngay Giải nguyên.

--------- 

(*). Ba chữ Phất – Mục – Nhân ghép lại thành chữ Phí:

                                                                                                           N. A. Đ

 

 

Hoài Nam

Góp ý

Đọc bài viết của ông tôi thấy buồn vì sao nó giống bài của nhà Sử học Lê Kim Thuyên đến thế? Phải chăng ông đã đọc Danh Nhân Vĩnh Phúc của ông Lê Kim Thuyên?

huybg09h

Kính bác Đào!

Dạo này chắc bác khỏe thấy bác đọc nhiều và viết nhiều về các cụ xưa đọc thấy bổ ích lắm .
Hôm doàn nhà văn Phú Thọ qua Bắc Giang tôi có ra chào không thấy bác đi hỏi cụ nhà thơ họ Điền bảo bác mệt không đi được rất tiếc hiếm có dịp gặp nhau như hôm đó...Mừng là bác vẫn viết đều đều...Chuc bác và gia đình sức khỏe mọi sự như ý.
Huybg09