Tiến sĩ Phí Văn Thuật

By Nguyễn Anh Đào

                             Giai thoại về ngôi mộ cổ và

                            Tiến sĩ Phí Văn Thuật đi thi

                                                     Nguyễn Anh Đào

         Ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) có một vị danh nho tên là Phí Văn Thuật. Ông là con trưởng Tri huyện Từ Liêm Phí Như Kiều. Thuở nhỏ học giỏi thần đồng cha mất sớm phải sống trong cảnh bần hàn. Mãi tới năm 21 tuổi Phí Văn Thuật mới đi thi Hương lần đầu. Ông đỗ Giải nguyên khoa Kỷ Mão (1639). Năm sau thi Hội qua 4 kỳ đều đỗ danh sách thứ nhất: Hội nguyên rồi dự kỳ sách vấn đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (Tiến sĩ) khoa Canh Dần (1640) đời Lê Thần Tông. Khi vào dự kỳ thi ứng chế trước sân rồng nhà vua tự ra đề. Bài của ông được chấm thứ nhất nên lúc bấy giờ người đời tôn ông là Tứ nguyên (4 lần đỗ đầu). Tên ông được khắc ghi trên bia số 35 ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội lập ngày 16 – 11 năm Thịnh Đức thứ I (1693).

       Xuất thân làm quan Phí Văn Thuật được phong chức Tự khanh ở Thái bộc tự phẩm trật hàng chánh ngũ phẩm được nhà vua ban tước Nam lấy chữ “Trưng” của tên làng quê để đặt tước hiệu là “Trưng Thọ Nam”. Ông là cháu ngoại Tiến sĩ Bùi Hoằng thời Mạc chú của Tiến sĩ Phí Quốc Thể đời vua Lê Hy Tông. Họ Phí có đền thờ Tiến sĩ Phí Văn Thuật ở xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường) với tên gọi “Tứ Nguyên Từ” trong hậu cung có bức biểu hoành bốn chữ “Văn Hiến Khả Trưng” và đôi câu đối:

       “Ngư tễ bách niên truyền đạo mạch

       Liên đàm vạn cổ dẫn thư hương”

       (Gò Con cá trăm năm còn lưu truyền mạch đạo

       Đầm Sen muôn đời dẫn dắt con đường thi thư khoa bảng).

       Để hiểu đầy đủ về đôi câu đối trên tôi phải đi hỏi ông Phí Văn Tiệp nhà giáo nghỉ hưu ở làng Vân Luông (Việt Trì - Phú Thọ) người hàng năm vẫn về Thượng Trưng để họp họ và tế tổ kể lại cho nghe câu chuyện về ngôi mộ tổ họ Phí đặt ở gò Con Cá cạnh đầm sen ở thôn Hòa Lạc xã Tân Cương (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc). Câu chuyện như sau:

       Theo người dân Thượng Trưng truyền lại thì từ xa xưa họ Bùi và họ Phí vốn là vọng tộc nhiều đời vẫn kết thông gia. Bùi Thủ Trân có con gái lấy chồng họ Phí. Cuối năm ấy con giai Bùi Thủ Trân là Bùi Phúc Diễn và con dâu họ Phí cùng đi đón thầy địa lý tìm đất để mả. Chỗ tìm được thuộc đất họ Bùi có thế “Quần ngư dịch tễ” – Đàn cá săn mồi - có thể phát đỗ 2 tiến sĩ nhưng khi đặt di cốt phải có 3 điều kiện: Táng đúng lúc giao thừa – Đúng ngày sát sư – Người phân kim phải là người qua đường đội nón sắt. Hai điều kiện trên thì dễ. Đúng nửa đêm 30 tết thầy địa lý vắng mặt là được. Nhưng người đặt tiểu phải đội nón sắt thì quả khó.

       Trong khi người con giai của Bùi Thủ Trân đang bận việc thì người con dâu họ Phí liền chuyển di cốt bố chồng đến nơi đất kết vừa tìm được và ngồi chờ. Mãi đến khi sắp sang canh mà vẫn không thấy có ai đội nón sắt đi qua. Mọi người đang thất vọng chán nản thì bỗng thấy một bóng đen lù lù xuất hiện trên đường. Tưởng ai hóa ra người làng Dận Tự bên cạnh đi ăn trộm về. Hai vai anh ta còn đeo lủng lẳng những chiếc bánh chưng bốc khói. Còn hai tay thì nâng cái chảo gang luộc bánh trên đầu. Hẳn là tên trộm này đã nẫng cả nồi bánh chưng tết của nhà ai đó.

       Người con gái Bùi Thủ Trân tức con dâu họ Phí mừng quá. Đúng là người đội nón sắt đây rồi liền quỳ xuống xin người đó giúp cho một việc hệ trọng. Tưởng mình bị bắt quả tang người kia sợ quá van xin được tha. Sau khi nghe rõ đầu đuôi liền thú thực mình chỉ là tên ăn trộm. Cũng vì nhà nghèo quá không có gì thờ tết cực chẳng đã nên phải làm thế chứ nào có biết gì về địa lý mà bảo đặt hướng mồ mả.

       Người con dâu họ Phí vẫn van nài. Chối không nổi người ăn trộm liền thò chân xuống huyệt gạt chiếc tiểu cho xê dịch một tý rồi mới đi. Người nhà họ Phí cám ơn rồi đắp lên thành mộ. Không ngờ cái gạt chân của tên kẻ trộm lại phân thành mạch “Tọa càn hương tốn” đúng như lời thầy Tàu phán.

alt

                 Mổ tổ họ Phí ở gò Con Cá

       Ngay sau đó Bùi Phúc Diễn cũng đem di cốt của bố là Bùi Thủ Trân đến chỗ đất kết để đặt thì thấy chỗ ấy đã có mộ. Người họ Bùi bảo nhau đào bỏ. Nhưng có người can ngăn là không nên để giữ âm đức. Họ Bùi đành rước di cốt Bùi Thủ Trân về ký táng tại xứ Gò Chám để lại đón thầy tìm đất khác. Nhưng chỉ mấy ngày sau bỗng nhiên chỗ ấy mối đùn đắp lên thành một ngôi mộ lớn. Họ Bùi cả mừng khi biết chỗ ký táng chỉ là vô tình nhưng lại chính là nơi quý địa. Thế là cả họ Bùi và họ Phí đều phát mộ và hai họ vẫn đời đời kết tình thông gia và con cháu thay nhau đỗ đạt. Họ Bùi và họ Phí đều có hai tiến sĩ Nho học. Họ Bùi có Bùi Hoằng và Bùi Công Tổn. Họ Phí có Phí Văn Thuật và Phí Văn Thể.

        Chuyện “Người không có mắt”:

      Mồ côi cha nhà nghèo 21 tuổi nho sinh Phí Văn Thuật vẫn lận đận việc mưu sinh. Khoa thi Hương Kỷ Mão (1639) ở trấn Sơn Tây. Ngày mai đã là ngày vào trường nhất mà cả đêm ấy Phí Văn Thuật vẫn phải chạy tiền chạy gạo. Mãi cho đến khi trời vừa sáng mới lo đủ.

      Đường từ Thượng Trưng sang Sơn Tây phải qua đò sông Cái ở bến Vĩnh Thịnh. Chuyện lạ mà có thật. Đêm hôm trước ngày thi Hương ông lái đò nằm mơ thấy có Thổ thần báo mộng rằng sáng mai chuyến đò đầu tiên phải chở người không có mắt qua sông. Nếu làm sai sẽ gặp vận hạn.

      Sáng ra đúng ngày phiên chợ bến đò tấp nập khách xuống. Ai cũng muốn sang ngay. Nhưng ông lái không chở nhất mực đuổi hết khách lên bờ. Mọi người thắc mắc thì ông khăng khăng một câu nói: “Đò tôi chuyến này chỉ chở một người không có mắt”. Khách đò lấy làm lạ cho là ông lái dở người. Vừa lúc ấy thì một thanh niên vai đeo túi gạo tay ôm lều chõng hơ hải đi tới. Người đó là Phí Văn Thuật.

       Phí Văn Thuật bước xuống đò vừa thở vừa khẩn khoản xin ông lái chở sang kẻo muộn. Ông lái vẫn một câu nói: “Đò tôi chỉ chở người không có mắt” rồi đuổi khách lên bờ. Phí Văn Thuật đứng nghĩ một lúc rồi cười: “Người đó chính là tôi đây”. Ông lái đò vặn lại: “Hai mắt anh thao láo thế kia sao lại bảo là không có mắt?”. Phí Văn Thuật giải thích: “Người không có mắt là nghĩa của ba chữ “Phất – Mục – Nhân”(*). Ba chữ ghép lại thành chữ “Phí”. Tôi họ Phí. Người không có mắt chính là tôi!”. Khách đi đò cũng bảo “Đúng anh ấy họ Phí đấy”. Ông lái đò hiểu ra và tin ngay rồi vui vẻ mời  một mình Phí Văn Thuật xuống đò và chở sang sông chuyến đầu tiên hôm đó.

       Khoa thi Hương năm ấy Phí Văn Thuật đỗ ngay Giải nguyên.

--------- 

(*). Ba chữ Phất – Mục – Nhân ghép lại thành chữ Phí:

                                                                                                           N. A. Đ

 

 

More...

Danh sư họ Phí

By Nguyễn Anh Đào

                                 Danh sư họ Phí ở Việt Trì

                                                                                  Nguyễn Anh Đào

Ông giáo Tiệp nguyên Hiệu trưởng trường Phổ thông cấp I xã Vân Phú nghỉ hưu đã gần 30 năm. Người dân phường Vân Phú thành phố Việt Trì hôm nay biết đến ông Tiệp chủ yếu là với vai trò “ông thủ từ” Trưởng ban quản lý đình làng Vân Luông một di tích cấp Quốc gia nằm trong quần thể khu di tích Đền Hùng. Ông còn là Trưởng ban Khuyến học của dòng họ ở khu vực Việt Trì một bộ phận của đại gia tộc Phí ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.

Mấy chục năm nay ông Tiệp được lãnh đạo và nhân dân địa phương tín nhiệm giao cho việc trông coi đình làng là bởi ông đọc viết được chữ Nho dịch nghĩa được thần tích thần phả. Đền Vân Luông thờ các vua Hùng đồng thời gắn với câu chuyện truyền thuyết về Thánh Tản Viên đi săn. Hàng năm làng tổ chức lễ hội thì cũng là những ngày ông Tiệp tất bật lo toan đến quên ăn quên ngủ. Trong ngôi nhà cấp 4 đơn sơ và nhỏ hẹp hàng ngày ông Tiệp pha nước tiếp khách xa gần. Người đến với ông phần nhiều có cuộc sống thanh bạch vô tư trọng đạo nghĩa. Có khi ông còn cho xem những sắc phong của triều đình phong kiến xưa ban cho các cụ dòng họ Phí những người có công khai sáng nền học vấn Nho học trên vùng quê Đất Tổ.

Theo lời ông Tiệp kể thì họ Phí lập nghiệp ở xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc từ đầu thế kỷ thứ VII khi nước ta còn bị Nhà Đường bên Trung Quốc cai trị. Từ đó họ Phí phát triển thành hai cành chính một ở Thái Bình một ở Sơn Tây nhưng gốc rễ vẫn là ở Thượng Trưng. Họ Phí ở Việt Trì hiện nay thuộc cành Thái Bình. Theo các nhà sử học thì ở Việt Nam duy nhất chỉ có một họ Phí. Dịp đầu năm vừa rồi họ Phí tổ chức gặp mặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám dưới sự điều hành của ông Phí Văn Chỉ nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga và ông Phí Thái Bình (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây) đang là Phó Chủ tịch thành phố Hà Nội để đọc bia tiến sĩ ôn lại truyền thống hiếu học của cha ông. Tại đây có hai vị tiến sĩ người họ Phí được lưu danh là Phí Văn Thuật đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) dưới triều Lê Thần Tông và Phí Quốc Thể đỗ tiến sĩ khoa Quý Hợi (1683) triều Lê Hy Tông.

Cụ tổ 6 đời của ông Phí Văn Tiệp là Phí Văn Sử người làng Thượng Tầm huyện Thanh Quan phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định. Nay là xã Đông Hoàng huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Ông vốn là người nổi tiếng học giỏi từng đỗ ba khoa Tú tài. Năm Thiệu Trị thứ II (1840) có sắc bổ làm Huấn đạo Phù Ninh (bao gồm cả thành phố Việt Trì ngày nay). Huyện lỵ lúc đó đóng ở làng An Lão tức xã Hùng Lô. Tên ông có trong bài minh khắc trên chuông lớn của đình Hùng Lô. Đến năm Tự Đức nguyên niên (1847) được thăng Giáo thụ phủ Đoan Hùng (tương đương trưởng phòng giáo dục). Trong thời gian đó cụ Phí Văn Sử đã có nhiều đóng góp trong việc mở trường dạy dỗ con em nhân dân kết quả đã có nhiều người đỗ đạt. Ngay khoa đầu từ khi cụ về nhậm chức ở Đoan Hùng đã có 1 người đỗ cử nhân 4 người đỗ tú tài. Công lao của cụ nức tiếng suốt giải ven sông từ ngã ba Hạc cho đến đầu Lô sông Chảy.

alt            Sắc bổ cụ Phí Văn Sử thăng Giáo thụ Đoan Hùng của triều đình Huế

5 năm sau vì tuổi cao sức yếu cụ Sử xin quy hưu trở về Thái Bình quê cũ. Cụ và gia nhân xuôi đò dọc đến làng Lâu Thượng (xã Trưng Vương) thì học trò nghe tin kéo ra mời thầy lên quán Chín Gian một ngôi quán cổ nằm ngay bên bờ sông để dân làng được thù tiếp. Cụ Sử bước lên thấy cờ quạt chiêng trống linh đình trong đó có cả cờ thần lá cờ chỉ xuất hiện trong những ngày tế lễ long trọng. Dân chúng có mặt rất đông trong đó có cả chức dịch địa phương. Mọi người chắp tay cúi đầu xin mời thầy lưu lại dạy học cho con em trong làng. Cảm động trước tấm lòng hiếu học và sự đón tiếp trọng vọng của người dân làng Lâu Thượng lại nể tình học trò cũ thầy Phí Văn Sử đã nhận ở lại một thời gian để dạy cho số người sắp ứng thí. (Như bây giờ gọi là luyện thi). Kết quả là khoa ấy có một người đỗ cử nhân một người đỗ tú tài. Tiếng đồn lan ra khắp nơi. Ở Lâm Thao cũng có người đến xin học.

Lúc đầu chỉ định lưu lại một thời gian nhưng vì thấy lòng dân trọng nghĩa học trò trọng đạo cụ Sử quyết định ở lại lập nghiệp nơi đây. Ngôi nhà ngói cũ sáu hàng chân tọa lạc trên một khu vườn rộng mà dân làng góp tiền mua cho cụ để vừa làm lớp học vừa kiêm luôn chỗ ở. Thế là họ Phí khởi phát với nghề dạy học trên đất Việt Trì bắt đầu từ đó.

Con cụ Phí Văn Sử là Phí Văn Tài nối nghiệp cha với nghề dạy học. Rồi đến cháu cụ Sử là Phí Văn Quyền vẫn theo nghề ấy. Họ Phí trở thành danh sư nức tiếng một vùng. Làng Vân Luông bằng mọi cách để đón được thầy Phí Văn Quyền lên dạy cho con em. Thầy quyền “gõ đầu trẻ” ở Vân Luông từ khi tóc còn xanh cho đến năm 70 tuổi ốm nặng dân làng võng về Lâu Thượng được ít ngày sau thì mất. Nhưng con giai thầy Quyền là Phí Văn Trừ ở lại lấy vợ ở Vân Luông cũng quyết không bỏ nghề dạy học. Ông dạy ở nhiều nơi bên Vĩnh Phúc như Liễn Sơn Như Thụy Yên Thạch Tam Sơn… Những ngày lễ ngày tết học trò kéo sang rất đông để lễ tết thầy. Con cụ Phí Văn Quyền là Phí Văn Tộ thân sinh ông Phí Văn Tiệp đỗ Sơ học yếu lược thời Pháp cũng từng dạy học ở xã Sông Lô.

Còn ông giáo Phí Văn Tiệp? Ông sinh ra và lớn lên giữa buổi giao thời. Tuổi trẻ ông học chữ Hán chữ Nôm của ông nội tiếp thu giáo lý Khổng Mạnh mà cốt lõi là tam cương ngũ thường. Lớn lên học trường Tây ở Việt Trì ông đỗ Sertibica (ngang lớp 9 bây giờ). Gia đình lo cho ông học lên để thi lấy bằng Thành chung thì vừa lúc Cách mạng tháng Tám bùng nổ rồi kháng chiến chống Pháp. Tuy là con giai độc nhất Phí Văn Tiệp vẫn xung phong đi bộ đội. Trong một trận chống càn ở Vĩnh Tường ông bị Tây bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò.

Hòa bình lập lại Phí Văn Tiệp trở về làng sau một cuộc trao trả tù binh. Trước đó gia đình ông đã nhận được giấy báo tử. Nghĩ mình dòng dõi gia sư sáu bảy đời liên tiếp gắn bó với nghề dạy học nay xuất ngũ cuốc không hay cày không biết làm sao để theo đít con trâu cày ruộng hợp tác được. Giữa lúc ngành giáo dục đang phát triển mạnh mẽ các nhà trường thiếu nhiều giáo viên ông Tiệp đã trình bày nguyện vọng của mình với ông Nguyễn Văn Truyền đang là hiệu trưởng trường Phổ thông cấp I xã Vân Phú và được ông Truyền tận tình giúp đỡ. Với trình độ văn hóa của ông Tiệp vào thời đó cũng là hiếm lắm. Cuối cùng ông được Ty Giáo dục Phú Thọ tuyển vào làm giáo viên dân lập. Bằng năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao luôn tận tụy với công việc thầy Phí Văn Tiệp được đề bạt làm hiệu trưởng cho đến năm  nghỉ hưu.

Khi tôi hỏi ông có học qua trường lớp sư phạm nào không thì ông Tiệp lắc đầu cười: “Không. Anh khác còn qua sư phạm gốc mít chứ tôi chả có gốc gì cả. Nhưng bồi dưỡng hè do cấp trên mở thì không vắng buổi nào”.

Ấy vậy mà những năm tháng dạy học của nhà giáo Phí Văn Tiệp đã để lại những tiếng thơm về nghề nghiệp về đạo đức người thầy trong lòng lớp lớp học trò cũng như cha mẹ họ. Nếu đem so sánh cuộc sống vật chất của một hiệu trưởng trường Tiểu học bây giờ với ông Tiệp thì khoảng cách khá xa. Phải chăng nhà giáo họ Phí đã hành nghề bằng cả tâm huyết của mình cùng với truyền thống dạy dỗ con người vì con người mà ông cha ông để lại.

                                                                                                     N. A. Đ

More...

Chúc mừng năm mới

By Nguyễn Anh Đào

Năm Con Hổ đã qua năm Con Mèo lại tới. Hổ mạnh mẽ oai linh mèo thông minh lanh lợi.

Người ven sông xin chúc các gia đình Blog trong cả nước an khang thịnh vượng. Đặc biệt xin chúc các đại gia ở Phú Thọ như Văn Bờm tiên sinh Tổng tập Chõe Bò Phùng Cơm nắm đang "hành phương Nam" võ tướng Trần Như Đắc Vũ Kim Liên - chuyên gia ái tình... sang năm mới ngôi nhà của các bạn lúc nào cũng sang trọng đầy khách sớm tối kẻ ra người vào bài nào cũng hay ảnh nào cũng đẹp...

 


 

More...

Mùa Xuân và Đại hội

By Nguyễn Anh Đào

                                                                                 

 

                                                                 NGHE GIÓ XUÂN VỀ

 

                                                   Tuỳ bút của Nguyễn Anh Đào

 

 


 

Những đợt gió lạnh tràn về theo lối bầu đoàn thê tử dắt díu nhau từ h­ướng Đông Bắc đem theo cái rét cuối đông làm cho ng­ười già xo ro trong len dạ trẻ em khăn áo kín đầu kín cổ đến tr­ường. Đời sống vật chất phong phú hôm nay đang là chất liệu để làm nên bức tranh mùa đông Việt Nam với những sắc màu rực rỡ t­ươi rói. Trên đường phố khắp nơi tràn ngập không khí chào mừng Đại hội Đảng XI với những băng cờ khẩu hiệu... Trên ba triệu đảng viên 86 triệu người dân Việt Nam đangướng về Đảng chờ đón những tin vui từ nghị quyết Đại hội vạch ra con đường đúng đắn nhất cho cả dân tộc đi lên.

 81 năm qua từ ngày Đảng ra đời lúc đầu "Nh­ư đứa trẻ sinh nằm trên cỏ. Không quê hư­ơng s­ương gió tơi bời" đến nay Đảng đã bám rễ ăn sâu vào trái tim khối óc của ngót trăm triệu đồng bào cả nư­ớc. Vì Đảng sinh ra từ trong máu lửa là chất tinh tuý nhất của cả dân tộc hơn bốn nghìn năm dồn tụ lại nên từ chỗ chỉ mấy chục đảng viên trải qua đấu tranh rèn luyện tới nay đã trở thành một đội ngũ hùng hậu luôn tiên phong trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Từ trong đêm đen nô lệ dân tộc ta đã vùng dậy đấu tranh d­ưới ngọn đuốc soi đường của Đảng. Sau ngày mồng 3 tháng 2 năm 1930 một thời kỳ bão táp cách mạng nổ ra: Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh khởi nghĩa Nam Kỳ Bắc Sơn Đô Lư­ơng... Rồi Cách mạng Tháng Tám thành công n­ước Việt Nam DCCH ra đời sánh vai với thế giới năm châu.

                            ước Việt Nam từ máu lửa

                   Rũ bùn đứng dậy sáng loà

                                   (Nguyễn Đình Thi)

Nghĩ về Đảng là ta nghĩ về Bác Hồ đã bôn ba đi tìm đường cứu nước nghĩ về các chiến sĩ cộng sản đã quên mình vì lý tưởng độc lập dân tộc ấm no hạnh phúc cho đồng bào. Những cái tên như Trần Phú Lê Hồng Phong Nguyễn Thị Minh Khai Tô Hiệu Ngô Gia Tự Hà Huy Tập Nguyễn Văn Trỗi... đã ngã xuống nơi pháp trường rơi đầu bên máy chém hoặc chết rũ trong lao tù thực dân đế quốc đã khắc đậm trong trái tim mọi người dân đất Việt. Chính sự hy sinh của các vị ấy cùng hàng triệu anh hùng liệt sĩ khác đã đem lại cho chúng ta cuộc sống hôm nay.

Không có nỗi đau vật chất và tủi nhục tinh thần nào bằng cảnh mất độc lập tự do. Không có niềm vinh quang nào bằng tự mình làm chủ bản thân mình. Đó là cốt lõi của Tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh về chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do".

Vốn mang trong mình dòng máu anh hùng bất khuất của cha ông con ng­ười Việt Nam hôm nay lại dũng cảm bư­ớc vào cuộc đấu tranh chống đói nghèo lạc hậu. Công cuộc xây dựng CNXH với nhịp đi vững chắc từng b­ước thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n­ước đang từng ngày từng giờ làm thay đổi bộ mặt xã hội từ mỗi làng quê đến ph­ường phố làm đổi thay số phận mỗi cuộc đời mỗi con ng­ười. Đó là­ những cánh én báo hiệu mùa xuân đang đến gần rì rầm âm vang như­ tiếng gió xuân đang thổi ngoài kia lao xao những vạt ngô xanh biếc bên bãi sông Lô sông Hồng.

Song cái hơi ấm đầu xuân ch­ưa đủ đè bẹp hẳn cái giá rét sắt se dai dẳng. Lại một cơn gió lạnh tung tẩy. Một thoáng bận lòng. Nhìn đoàn xe cộ nối đuôi nhau đi lại như­ mắc cửi trên đư­ờng phố ta lại sót sa nghĩ đến con số ngư­ời thiệt mạng vì tai nạn giao thông xẩy ra hôm qua hôm nay ở đâu đó mà đài báo vừa đư­a tin.

Nhìn những toà biệt thự cao tầng kiểu dáng tân kỳ khoe màu sơn mới ta lại giật mình nghe tin nơi này nơi kia những vụ tham nhũng tiêu cực buôn lậu trốn thuế chiếm đoạt đất đai tiền bạc của Nhà nước của nhân dân gây xôn xao dư­ luận làm nhức nhối tim gan mỗi ng­ười.

Đã có ai đó nói: Văn minh vật chất không đẻ ra văn minh tinh thần mà ng­ược lại. Đồ dùng tối tân hiện đại tiện nghi tân tiến có khi lại làm cho văn hoá xuống cấp giá trị đạo đức bị coi th­ường l­ương tri băng hoại. Quả có thế. Những tiêu cực xã hội tệ tham nhũng hối lộ đang trở thành vấn nạn mà báo chí đã phanh phui các kỳ họp Quốc hội cũng đã có nhiều ý kiến đ­ại biểu gắt gao lên tiếng. Không ít ngư­ời trong chúng ta đã giảm sút niềm tin vào những cán bộ có chức có quyền đang lún sâu vào thoái hoá biến chất. Họ đoạt lấy quyền lực không phải bằng tài năng đức độ mà bằng sự chạy chọt mua bán để có chức có quyền có tiền rồi gia đình con cái họ sống vùi mình trong hưởng lạc với đủ các tiện nghi hiện đại. Trong khi đó quanh ta còn có không ít những người nghèo đói không có việc làm ốm đau bệnh tật không có tiền chạy chữa con em không có tiền để học lên...

Liệu có đẩy lùi đ­ược nạn tham nhũng hay không? Đó là một câu hỏi lớn trước lịch sử bởi nó ảnh h­ưởng quyết định đến sự thành công hay thất bại của công cuộc  xây dựng một nước Việt Nam "Dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh" như mục tiêu đại hội Đảng đã đề ra.

Cố Thủ t­ướng Phạm Văn Đồng có lần nói: Những vấn đề gì mà lịch sử đặt ra thì các điều kiện để giải quyết nó đã sẵn sàng. Đảng ta giống như­ một con thuyền lư­ớt sóng ra khơi có tay lái vững dày dạn từng v­ượt qua giông tố hiểm nghèo nhất định sẽ tìm ra giải pháp hữu hiệu.

Tất cả trông chờ ở những quyết sách được đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XI này cùng với những người lãnh đạo tài năng xuất chúng đạo đức mẫu mực theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh không tham quyền cố vị không vì lợi ích phe nhóm một lòng vì Tổ quốc vì nhân dân được Đại hội sáng suốt lựa chọn bàu ra.

Ngày khai mạc Đại hội là ngày 11 tháng 1 năm 2011. Đó là thời khắc tuyệt đẹp. Theo triết học Phương Đông thì nguồn gốc của vạn vật là số. Vũ trụ cũng là số. Phần nói về bí mật của các con số thì số 1 là bắt nguồn của vũ trụ con số thái cực khai thái của trời đất là con số cơ bản của vạn vật biểu thị cát tường lớn nhất thuộc loại đại thành công. Số 11 dược coi là "mầm sớm gặp mưa" con số xuân thành dục có ý nghĩa vãn hồi vận nhà vận nước. Ngày 11 tháng 1 năm 2011 sẽ là ngày mang đến niềm vui và hy vọng lớn lao cho mỗi chúng ta.

Hãy giữ vững niềm tin chiến thắng!

 

More...

Lời Người ven sông

By Nguyễn Anh Đào


Lời Người ven sông:

Thời gian qua chủ nhân blog Người ven sông - Nguyễn Anh Đào - không may mắc căn bệnh hiểm nghèo phải  điều trị tại Viện Huyết học và Truyền máu TW cho nên các trang blog không có bài post lên. Một số bạn thắc mắc hỏi thăm nhưng cũng không có điều kiện nói rõ được. Cho đến hôm nay bước sang năm mới 2011 nhờ gặp thầy gặp thuốc sức khỏe của tôi cũng đã tạm thời bình phục tuy định kỳ vẫn phải về Hà Nội để khám lại.

Trong những ngày qua nghe tin tôi ốm mệt nhiều người người đã đến thăm hỏi cho quà và động viên tôi cố gắng vượt qua.

Tôi rất cám ơn Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Nhà văn Đỗ Xuân Thu Phó Chủ tịch Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ cùng một số anh chị ở cơ quan Hội và Tạp chí đã đến thăm.

Xin cảm ơn Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn Chi hội trưởng Chị hội Văn xuôi Nhà văn Lê Phan Nghị Chi hội phó Chi hội VHNT các dân tộc thiệu số VN tại Phú Thọ thay mặt cho hai chi hội Nhà thơ Điền Ngọc Phách Chủ tịch Hội VHNT Việt Trì Chủ tịch CLB Thơ VN ở Phú Thọ thay mặt cho Hội Văn nghệ Việt Trì và CLB đã đến thăm.

Xin cảm ơn Đảng ủy HĐND UBND phường Vân Cơ thành phố Việt Trì do đồng chí Nguyễn Ngọc Ánh Phó Bí thư Đảng ủy Chủ tịch UBND phường đại diện cùng đồng chí Hà Thị Quỳnh Lâm Thường vụ Đảng ủy Phó Chủ tịch UBND phường đồng chí Phùng Thị Thanh Phượng đảng ủy viên Chủ tịch Hội Phụ nữ phường đến thăm.

Xin cảm ơn đồng chí Hà Thị Quỳnh Lâm Chủ tịch Hội Khuyến học phường Vân Cơ thay mặt cho Hội đến thăm.

Xin cảm ơn BCH cùng đông đảo các thầy cô giáo Hội Cựu giáo chức phường Vân Cơ đã đến thăm.

Xin cảm ơn Ban Chi ủy cùng đông đảo các đồng chí đảng viên trong chi bộ khu phố 2 phường Vân Cơ đã đến thăm.

Xin cảm ơn Ban quản lý đình làng Yên Lập xã Tứ Yên huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc) cùng các ông bà các cháu thay mặt cho dòng họ Nguyễn Hữu ở quê đã sang thăm. Đặc biệt có ba cụ trong đó 2 cụ 80 tuổi 1 cụ 78 tuổi là các cụ Hoàng Văn Nghiêm Hà Văn Tề Nguyễn Văn Lạc đã đi xe đạp qua đò sông Lô sang thăm.

Xin cảm ơn Nhà văn Trần Như Đắc Nhà thơ Đàm Tuất Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Đài Nhà thơ Nguyễn Hữu Cầu Nhà báo Đức Dũng cùng các bạn bè bà con xóm phố xa gần có quan hệ tình cảm với tôi và các con tôi đã tới hỏi thăm và cho quà.

Cảm ơn Nhà văn Xuân Mai nhà báo Thanh Vĩnh ở Vĩnh Phúc Vợ chồng Nhà Văn Phùng Phương Quý ở Tây Ninh cũng đã gọi điện hỏi thăm.

Đặc biệt tôi muốn gửi đến ông Nguyễn Như Miến người bạn già tri kỷ lời cảm ơn sâu sắc. Ông Miến hiện đang sống ở Hà Nội người mà tôi đã có bài viết trên blog nhân dịp ngày Nhà giáo VN 20-11/2010 bài "Thầy già trò lên lão". Khi tôi nằm diều trị ở Viện Huyết học và Truyền máu TW ông Miến đã ba lần đạp xe 15 cây số từ phố Lương Khánh Thiện đến thăm. Khi tôi về nhà ở Việt Trì ông cũng một lần lên thăm. Tôi rất cảm động trước tấm lòng của một con người giàu lòng thương yêu chân tình với bè bạn hiếm có như ông Nguyễn Như Miến.

Thưa các bạn!

Sống ở trên đời "Sinh - Lão - Bệnh - Tử" vốn là quy luật không ai tránh khỏi. Những ngày qua tôi không may mang bệnh nhưng được cơ quan đoàn thể cùng bạn bè bà con thân hữu thăm hỏi động viên tôi thấy mình có thêm nghị lực để vượt qua bệnh tật. Cũng qua đó tôi thấy được cuộc đời này đáng quý biết chừng nào bởi xung quanh ta có biết bao nhiêu người tốt!

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả. Và blog Người ven sông sẽ lại tiếp tục với những trang viết mới.

 

More...

Nguyễn Xuân Đài...

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

         Nguyễn Xuân Đài và con đường Minh triết

                                                             Nguyễn Anh Đào

Nói đến cái tên Nguyễn Xuân Đài người dân Việt Trì - Phú Thọ không mấy ai là không biết. Đó là một kỹ sư ngành kiến trúc Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Phú Thọ. Anh từng là Trưởng ban Kiến thiết ngành Văn hóa tỉnh Vĩnh Phú rồi Trưởng ban Quản lý Dự án đầu tư Sở VH-TT-TT Phú Thọ trong đó có Khu di tích lịch sử Đền Hùng. Những hạng mục công trình xây mới và tu tạo ở Khu di tích hiện nay có công sức của Kỹ sư Đài. Dù đã nghỉ hưu nhưng Nguyễn Xuân Đài vẫn được ngành Văn hóa và nhất là Giám đốc Khu di tích Đền Hùng Nguyễn Tiến Khôi ưu ái và trọng vọng mời tham gia những cuộc hội thảo đóng góp ý kiến nhằm đưa Khu di tích Quốc gia đặc biệt này trở thành di sản văn hóa của nhân loại.

 


 

Kiến trúc sư Nguyễn Xuân Đài và cháu ngoại

Nhưng nếu chỉ có thế thôi thì Nguyễn Xuân Đài trước sau cũng chỉ là một người hành nghề xây dựng. Nếu lập công ty riêng làm ngoài thì cùng lắm cũng chỉ là một anh cai thầu. Cái tôi muốn nói ở đây rằng Nguyễn Xuân Đài là một nhà khoa học một nhà phong thủy một kiến trúc sư giàu tâm huyết luôn tập trung ý tưởng vào các đền chùa miếu mạo nơi nhuốm đẫm màu sắc tâm linh. Dưới con mắt của Nguyễn Xuân Đài mọi cái đều có hồn mà cái hồn cốt đó theo anh là bởi "tụ khí tụ gió tụ nước" do hình sông thế núi mang lại nó tồn tại như một tất yếu khách quan hàng ngày vẫn chi phối cuộc sống vật chất và tâm linh con người.

Gần đây Nguyễn Xuân Đài công bố cuốn sách "Hồn Việt" gồm 2 tập do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Đây là tập hợp những công trình nghiên cứu tỷ mỷ công phu có giá trị nhiều mặt về khoa học xây dựng từ cổ chí kim về kiến trúc đền đài lăng miếu về hoành phi câu đối đại tự văn bia và các tác phẩm điêu khắc ở khu di tích Đền Hùng và các nơi khác nhằm khám phá lý giải những bí ẩn trong thế giới hữu hình và vô hình mà cho đến nay vẫn như những dấu hỏi treo lơ lửng trước nhãn quan mỗi chúng ta.

Viết về Khu di tích Đền Hùng thì đã có nhiều nhưng dưới con mắt của Nguyễn Xuân Đài anh luôn có cái nhìn khác biệt. Từ bốn chữ đại tự trước cổng Đền Hùng "Cao sơn cảnh hành" (hay "cảnh hạnh") đã có nhiều ý kiến khác nhau thậm chí còn nổ ra những cuộc tranh luận sôi nổi trên báo chí. Đến bài viết của Nguyễn Xuân Đài qua phân tích lý giải của anh được mọi người đánh giá là có cơ sở đáng tin cậy. Theo Nguyễn Xuân Đài bốn chữ phải đọc là "Cao sơn cảnh hạnh" chứ không phải "cảnh hành" từ đó nên hiểu "Cao sơn cảnh hạnh" là: Đức hạnh cao minh - Núi cao cảnh đẹp.

Các bài viết của Nguyễn Xuân Đài trong "Hồn Việt" là nơi để anh gửi vào đó những tình cảm sâu nặng của mình đối với những giá trị của cha ông để lại. Đối với những tác phẩm tân tạo bài viết của Nguyễn Xuân Đài còn mang tỉnh phản biện khoa học vạch ra những cái bất cập những chi tiết lai căng. Năm 2000 nhân dịp Quốc giỗ mồng 10 tháng 3 có người đưa ra biểu trưng "Cha Rồng Mẹ Tiên" Nguyễn Xuân Đài đã thẳng thừng phê phán: không có "Cha Rồng Mẹ Tiên" mà chỉ có "Con Rồng Cháu Tiên". Anh còn có một loạt bài phê phán hình mẫu cổng Khu di tích Đền Hùng nằm bên Quốc lộ 2. Đó là những công trình tốn kém tiền của khi dựng lên "thành mà không đạt". Hay khi người ta treo lên hình ba con chim hạc dựng đứng được gò bằng kim loại mỏng "mắt đục như mắt cá chết" như thể sắp đem cắt tiết vặt lông ngay giữa trung tâm thành phố trong ngày lễ hội Đền Hùng anh đã trực tiếp đến gặp ngành Văn hóa để phản đối. Sau đó anh có ngay bài viết phê phán việc làm gây phản cảm đó: "Toàn những biểu tượng xui xẻo xuất hiện vào những ngày hội lớn của dân tộc. Thật đáng trách!". Ngay Biểu trưng "Giỗ tổ Hùng Vương 2005" được Bộ Văn hóa Thông tin phê duyệt Nguyễn Xuân Đài cũng có nhận xét: "Chưa khơi dậy được ký ức sâu thẳm và thiêng liêng về thời Hùng Vương mà mới chỉ gây ấn tượng về Phật giáo".

Nhưng không phải chỉ có "phê". Khi xem vườn tượng ở khu Công viên Văn Lang trước tượng Âu Cơ của tác giả Lê Liên Nguyễn Xuân Đài viết: "Trái tim người mẹ là kiệt tác của Thượng đế. Lòng mẹ là vực thẳm mà đáy được trải bằng sự khoan dung dịu hiền... Tác giả Lê Liên biểu hiện mẹ Âu Cơ qua hình tượng quả trứng tinh lọc nõn nà kỳ ảo đặt trên đỉnh bán cầu như tiềm ẩn "biến động" của sự sống huyền diệu. Nhìn vào quả trứng mà lại như thấy mẹ Âu Cơ ngồi ôm bọc trứng trong lòng hôn hít trìu mến che chở mong cho cuộc sống an hòa tượng trưng cho sự nuôi dưỡng bất diệt". Hay khi anh viết về cây cầu Việt cổ trong Công viên Văn Lang: "Bỗng nhiên tưởng tượng thấy trước mắt hình con rùa trườn qua (cầu cong hình mai rùa - NAĐ) soi mình xuống nước như một Vọng giang lâu để ngắm cảnh công viên".

Sở dĩ Nguyễn Xuân Đài có một cái nhìn thấu đáo đi sâu vào tận ngõ ngách những tác phẩm kiến trúc những công trình dù cổ hay kim rồi đưa ra nhận xét khen chê một cách khách quan có sức thuyết phục trước hết phải nói anh là một nhà khoa học giàu tâm huyết. Hai nữa cái mà người khác không có ở Nguyễn Xuân Đài là "Ánh sáng" của một niềm tin bất diệt trong anh luôn dẫn dắt mọi suy nghĩ hành động của một nhà khoa học một kiến trúc sư tài năng. Đó là sự Minh triết trong tư duy lấy sự duy lý của thế giới quan Phương Đông cổ đại làm chuẩn mực coi vạn vật trong tự nhiên và xã hội đều nằm trong quy luật tương tác của âm dương ngũ hành của tam tài tứ tượng... Ảnh hưởng và tiếp thu ánh sáng học thuyết của Lão Tử (thế kỷ VI trước CN) thấm nhuần tư tưởng Đạo Đức Kinh lấy sự "vô vi" - không hành động làm lẽ sống Nguyễn Xuân Đài luôn tránh xa cuộc "giành giật" hàng ngày vẫn diễn ra. Theo anh con người như thế sẽ sống hài hòa với tự nhiên và hướng tới chi phối cả vũ trụ. Đó chính là con đường Minh Triết mà anh đang tiếp cận.

Nói đến Minh Triết là nói đến sự nhận thức về thế giới mà con người ta sử dụng để giải thích mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ một cách nhất quán qua cái nhìn vi diệu mà các giác quan thông thường không cảm nhận đươc. Nói cách khác có những hiện tượng để hiểu được nó phải bằng linh cảm và đức tin. Ở Nguyễn Xuân Đài anh có một đức tin gần như tuyệt đối vào những cái mà anh theo đuổi cùng với linh cảm để dự đoán dự báo. Đó chính là ngọn lửa từ trái tim là ánh sáng của sự giác ngộ mà con người ta có thể đạt tới để rồi nhận ra chân lý từ chính cuộc sống của mình.

Minh Triết không chỉ là sự "sáng suốt" thông thường. Nó lấp lánh trong các học thuyết của các tôn giáo từ Đông sang Tây trong đó có Đạo Giáo.

Tư tưởng của Lão Tử kết tinh ở chữ "Đạo". Đạo Đức Kinh viết: "Có vật gì đó sinh ra cả đất trời lặng lẽ trống không đứng riêng biệt không đổi thay tuần hoàn liên tục là gốc của thiên hạ. Đó là "Đạo". Đạo là nguyên lý huyền diệu không thể nói thành lời...". Trong điều kiện đó thì sinh "Khí". Anh Đài giải thích: "Khí" là một dạng năng lượng đặc biệt mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Mọi tồn tại mọi hiện tượng đều bắt nguồn từ "khí". Lão Tử nói: "Khí là Mẹ của muôn loài". Khoa học hiện đại xem "khí" là hạt siêu nhỏ cùng với "trường" của nó. Đối với con người "khí" là tinh thần là sinh lực điều khiển mọi hoạt động. Đối với đất nước đó là tinh hoa là sức mạnh của cộng đồng dân tộc. Khi Thân Nhân Trung khắc lên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" hay khi ta nói "Hào khí Thăng Long" thì cái "Nguyên khí" "Hào khí" ấy chính là phần tinh túy chỉ sức sống hào hùng và mãnh liệt của dân tộc Việt. Trong bài hát "Người Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi có câu: "Đây lắng hồn núi sông ngàn năm" thì cái "Hồn" ấy chính là hào khí của non sông Việt Nam dồn tụ lại trên đất kinh đô ngàn năm của chúng ta.

"Khí" được tích tụ giữ gìn là tiền đề của thuyết Phong Thủy học thuyết về "Tàng phong" (giữ gió) "Đắc thủy" (đất được nước). Phong thủy bắt nguồn từ Âm Dương ngũ hành và từ kinh nghiệm thực tiễn cuộc sống của con người. Đây là điều mà Nguyễn Xuân Đài rất tâm đắc. Theo anh vạn vật như trời đất cây cỏ sỏi đá... đều có hồn là do được "tụ khí". Vì thế nên mới có "cát địa" "phú địa" là những chỗ phải chọn khi xây thành dựng đế đô làm nhà đặt mồ mả...

Nguyễn Xuân Đài rất chú trọng các tác phẩm điêu khắc bằng đá. Theo anh đá là dư âm vạn năng từ ngàn xưa vọng lại và trở thành "linh khí". Trước cửa nhà anh đặt hai con nghê đá cỡ lớn được mua từ Đà Nẵng chở ra. Anh gọi đó là "Con Linh". Chuyến đi du lịch Côn Minh (Trung Quốc) anh cũng mua về mấy con nhỏ hơn với số tiền hàng triệu đồng. Khi vào Đà Lạt đến thăm phòng trưng bày tác phẩm của Nhà Điêu khắc Nguyễn Văn Hạng anh tha thiết muốn mua mấy pho tượng đá nhưng vì chủ nhân đi vắng nên không thực hiện được ý định. Trở về anh thơ thẩn nuối tiếc.

 


 

Trước cửa đền Quán Thánh - Hà Nội

Nhiều lần đi với Nguyễn Xuân Đài tôi thường thấy anh đứng hàng giờ bên những tượng đá bia đá cây hương đá. Theo quan niệm của Nguyễn Xuân Đài đá là vật chất đặc biệt trong vũ trụ được kết tinh qua hàng triệu năm dưới sự tác động mãnh liệt của tự nhiên. Đá một khi qua bàn tay chế tác của con người thì chính con người đã thổi hồn vào đá. Cũng có khi đá đột ngột xuất hiện trong tự nhiên như hòn Vọng Phu hòn Vợ hòn Chồng hòn Trống Mái... Hay đặc biệt ở trên đỉnh núi Sim nằm trong Khu di tích Đền Hùng xuất thần nhô lên một tảng đá lớn màu gan gà mông mốc sần sùi như vẩy trông giống như con rồng nổi lên để lộ ra phần cổ đầu miệng mắt ngửng nhìn về phía biển Đông với khí phách hiên ngang như thách thức với thời gian mưa nắng. Với con mắt phong thủy thì núi Sim là đất "Triều Sơn Hướng Thủy" lại có biểu tượng Rồng cưỡi Rùa. Dưới chân núi Sim nay mọc lên một tòa kiến trúc độc đáo đáp ứng lòng ngưỡng vọng của trăm triệu con cháu Lạc Hồng : Đền thờ Lạc Long Quân. Theo Nguyễn Xuân Đài: "Lạc Long Quân gặp lại Rồng thì thật là một điều may mắn một thứ "Duyên kỳ ngộ" huyền diệu và linh thiêng nơi Đất Tổ vua Hùng".

 Từ một cái nhìn một tâm niệm về thế giới Nguyễn Xuân Đài đã rèn cho mình một lối sống vừa giản di vừa nghiêm túc. Anh luôn hòa vào với thiên nhiên yêu thương con người và cảnh vật coi thường tiền bạc danh vọng. Có ai đó bảo anh là "mất hướng" là "chập mạch" kệ. Họ bảo đá là do trầm tích là sản phẩm marma đá chỉ là đá chứ chẳng có hồn vía nào cả. Còn "Khí" là cái gì? Chẳng là cái gì cả. Nào ai sờ thấy nhìn thấy? Có người giễu cợt anh. Anh không đối thoại. Nhưng khi lấy hướng nhà định vị mồ mả người ta vẫn phải hỏi đến anh hoặc đón "thầy" mở sách. Đó là điều không thể chối cãi.

Thương người sẵn sàng giúp đỡ ai gặp khó khăn. Quan hệ bạn bè thâm giao cầu thị. Đó là bản chất Nguyễn Xuân Đài. Còn một điều này nữa (có lẽ không nên nói) là vợ chồng Nguyễn Xuân Đài có quan hệ bà con gần gũi với Tổng Bí thư. Thế nhưng chưa bao giờ anh nói với ai điều ấy. Những lần có công việc về quê vợ ở Bắc Cạn anh có thể chụp chung với Tổng Bí thư một bức ảnh kỷ niệm rồi phóng to treo tường như ai đó đã làm. Những Nguyễn Xuân Đài thì không. Đó cũng là một nét riêng trong tính cách của con người này. Phải chăng cái ánh hào quang lấp lánh của Minh Triết đã "thâm nhập" vào anh?

                                                                                                                N. A. Đ

 

 

More...

Vua Bảo Đại

By Nguyễn Anh Đào

 
 
 
Vua Bảo Đại và sự sụp đổ của triều đình Huế


       Trong những ngày tháng Tám năm 1945 khí thế cách mạng sục sôi trong cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng CSĐD Mặt trận Việt Minh đã tập hợp mọi lực lượng quần chúng nổi dậy khởi nghĩa. Ở Hà Nội hơn mười vạn người đã tham gia biểu tình cướp chính quyền trong ngày 19. Ngày 25- 8 hơn một triệu quần chúng đã giành chính quyền ở Sài Gòn. Còn ở Huế kinh đô của triều Nguyễn nơi đóng trụ sở của chính phủ Trần Trọng Kim việc giành chính quyền ở đây diễn ra có phần phức tạp hơn bởi còn cái ngai vua  của Bảo Đại khi ông ta vẫn đang ngồi.

 


                                                                  Vua Bảo Đại

More...

35 năm Hội VHNT Phú Thọ

By Nguyễn Anh Đào

35 năm Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ

      Ngày 17 – 8 / 2010 tại thành phố Việt Trì đã diễn ra lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ Hội đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì đồng thời trao giải Hùng Vương và giải 5 thửơng năm về Văn học Nghệ thuật cho các hội viên. Về dự có Phó Giáo sư Họa sĩ Vũ Giáng Hương Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam lãnh đạo các hội chuyên ngành trung ương các nhà văn nhà thơ là người Phú Thọ đang sinh sống ở các nơi trong đó có Giáo sư Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn Ủy viên TƯ Đảng Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản cùng toàn thể hội viên của Hội.      

       Sau màn múa hát chào mừng Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng Chủ tịch Hội đã đọc bài diễn văn quan trọng: Văn học Nghệ thuật Phú Thọ hơn một phần ba thế kỷ nêu lên sự trưởng thành của Hội sau 35 năm hoạt động. Từ ngày thành lập cả Vĩnh Phúc và Phú Thọ (Vĩnh Phú) chỉ có 121 hội viên. Tới nay chỉ riêng Phú Thọ đã có gần 200 hội viên (không tính hàng trăm hội viên chuyển đi nơi khác) sinh hoạt ở 8 chuyên ngành không kể văn nghệ dân gian và kiến trúc. Đã có trên 500 đầu sách của hội viên được xuất bản gồm tiểu thuyết truyện ngắn bút ký nghiên cứu lý luận phê bình thơ nhạc… Đã tổ chức được 36 cuộc triển lãm mỹ thuật nhiếp ảnh. Mở được hơn 80 trại sáng tác hơn 20 cuộc hội thảo. Tạp chí Văn nghệ Đất tổ phát hành được gần 300 kỳ tương đương với 400 ngàn bản…

      Với những thành tích trên đây Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ xứng đáng được nhận Huân chương cao quý của Nhà nước trao tặng.

      Dưới đây là một số hình ảnh trong buổi lễ




                                 Múa hát chào mừng




Chủ  tịch Hội Đỗ Ngọc Dũng: Hơn một phần ba thế kỷ Văn học Nghệ thuật Phú Thọ trưởng thành và phát triển




Phó Bí thư TU Hoàng Dân Mạc trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho Hội




                   Bà Vũ Giáng Hương tặng Hoa và trướng




Họa sĩ Ngô Quang Nam nguyên Chủ tịch đầu tiên của Hội phát biểu cảm tưởng

NSND Chu Thúy Quỳnh Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Múa ôm hôn Phó C.t tỉnh Nguyễn Thị Kim Hải sau khi trao Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp múa cho bà Hải và Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng

 


Trao giải Hùng Vương cho 5 hội viên: Đỗ Xuân Thu Nông Thị Ngọc Hòa Nguyễn Tham Thiện Kế Nguyễn Anh Tuấn Trịnh Hùng Khanh

Trao giải A cho 8 hội viên: Đỗ Ngọc Dũng Nguyễn Hữu Nhàn Kim Dũng Nguyễn Anh Đào Phạm Việt Đức Cao Định Bùi Thanh Ninh Vũ Văn Viết

More...

Mỹ ném bom nguyên tử...

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

65 năm ngày Mỹ ném bom nguyên tử xuống

thành phố Nagasaky Nhật Bản

                                                       

                                                                        Nguyễn Anh Đào

        

           Cũng là dịp hiếm có cuối năm ngoái tôi được đến Nagasaky một thành phố nằm ở phía nam nước Nhật. Cách đây 65 năm vào những ngày cuối Thế chiến thứ II thành phố này đã bị đế quốc Mỹ ném xuống đây một quả bom nguyên tử giết chết 74.000 người. Chưa đầy một tuần lễ sau ngày 15 - 8 / 1945 nước Nhật đã phải tuyên bố đầu hàng phe Đông Minh vô điều kiện.

More...

Đến với Sông Hương

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

          KỶ NIỆM LẦN ĐẦU ĐẾN VỚI SÔNG HƯƠNG

 

                                                                                             Nguyễn Anh Đào

 

Cách đây vừa tròn 10 năm lần đầu tiên tôi đến Huế.

Cái cụm từ "Huế đẹp và thơ" vốn từ lâu quyến rũ tôi. Từ thời còn trai trẻ nhất là khi duyên nợ với văn chương tôi vẫn ước ao được một lần đến Huế. Cuối cùng điều mong ước ấy đã được thực hiện sau khi truyện ngắn "Nàng Hinh và những khúc quan hoài" của tôi được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Sông Hương. Giấy mời vào nhận giải do Tổng biên tập - Nhà văn Nguyễn Quang Hà ký là sẽ đón tiếp chúng tôi từ ngày 25 tháng 6 năm 2000. Nhưng lễ trao giải thì vào chiều ngày 28.

More...