Truyện ngắn Tắm tiên của Trần Như Đắc

By Nguyễn Anh Đào

                              Có một niềm vui như thế

                                                                                         

                                                                                                                     Nguyễn Anh Đào

 

     Báo Văn nghệ số đặc biệt 18+19 ra ngày 30-4-2011 nhân kỷ niệm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước đã in truyện ngắn dự thi của tác giả Trần Như Đắc với cái tên ngồ ngộ “Tắm tiên”. Truyện đơn giản nhưng đậm tính nhân văn. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng lối kể chuyện hồn nhiên không trau chuốt ít dùng thủ pháp ẩn dụ mà vẫn làm cho người đọc cảm nhận được ý nghĩa của hình tượng qua từng tính cách nhân vật. Đây là bước đi tiếp của “Chị tôi ở phố Hòe Nhai” (báo Văn nghệ số đặc biệt kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội) của “Một thời lính” NXB QĐND mà Trần Như Đắc vừa mang đến cho người đọc dịp đầu xuân Tân Mão.

     Nói “tắm tiên” có người nghĩ đến cảnh các cô gái Thái ở Tây Bắc thả mình trên các dòng suối mát để rồi tò mò liên tưởng về những xúc cảm bản năng. Nhưng không phải. Trong truyện của Trần Như Đắc vẫn cảnh tắm tiên nhưng là cảnh một vị tướng và một anh lính cần vụ hồn nhiên cọ lưng cọ người cho nhau rồi cùng ngắm của quý của nhau mà cười.

     Cái ông tướng Nông Văn Khờ ấy thích sống hòa vào với thiên nhiên cùng vào rừng lấy măng lấy nấm với lính thích uống rượu nút lá chuối nhắm với măng đắng chấm muối ớt. Ông không nhận quà biếu của cấp dưới không yêu cầu cần vụ phục dịch kể cả giặt quần áo. Có chăng ông chỉ bảo kỳ hộ lưng khi ông tắm mà tính ông thì thích tắm truồng ở suối. Những lúc ấy thân hình ông tạc vào không gian như một bức tượng “thịt da ông nhẵn bóng màu đồng hun”… Một vị tướng như thế gì mà quân đội ta không hùng mạnh. Đọc “Tắm tiên” của Trần Như Đắc ta lại nhớ tới Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo câu: “Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào…”. Đó là tiền đề là cơ sở để quân dân ta đánh thắng mọi thứ giặc ngoại xâm dù chúng mạnh đến đâu.

     Nhưng người đọc vẫn thấy buồn.

     Bên cạnh tướng Khờ dân dã sống chan hòa với lính thì lại có ông tướng Huy sống quan cách thích quà biếu của cấp dưới. Mỗi lần về thăm nhà thì thằng Hòa cần vụ lại tất bật lo đóng gói những thứ quà cáp mà người ta biếu thủ trưởng của nó rồi chất đầy cả xe chở đi. Nghe tin ở đơn vị nào bắn được gấu rừng là thủ trưởng Huy cũng tìm cách gợi ý để họ biếu cho cái mật. Một thủ trưởng như tướng Huy tất phải có một cần vụ như thằng Hòa xun xoe nịnh hót tận tụy tăm nước cho thủ trưởng sau mỗi bữa ăn. Và con đường thăng tiến của hắn cũng khác cần vụ của tướng Khờ. Hòa được cất nhắc cho đi học sĩ quan chỉ huy. Còn “tôi” cần vụ của tướng Khờ được thủ trưởng quý mến đã giải quyết theo nguyện vọng cho về tiểu đoàn Bốn vì ở đấy “có suối Nách ở bản Dao đẹp lắm tha hồ mà tắm tiên nhé!”.

     Hai vị tướng với hai người lính cần vụ qua truyện ngắn “Tắm tiên” của Trần như Đắc là hai bức tranh đối lập một sáng một tối đáng để người đọc suy ngẫm.

 

     Không được giải gì trong đợt xét giải 5 năm của tỉnh Phú Thọ (2005-2010) mặc dù tác giả có hai tập truyện được in gửi xét. Trong khi đó mọi người khuân giải về như khuân củi. Tuy có buồn nhưng Trần Như Đắc không nản. Anh vẫn cặm cụi viết và viết. Anh khiêm tốn học hỏi những người có kinh nghiệm hơn mình. “Một thời lính” ra mắt bạn đọc được mọi người đánh giá cao qua cuộc hội thảo vừa rồi đã phần nào động viên anh. Trần Như Đắc quan niệm: Viết là để thể hiện tình cảm của mình trước cuộc sống chứ phải đâu là để lấy giải.

     Trần Như Đắc không có tên trong danh sách hội viên Hội nhà văn nhưng tuần báo Văn nghệ của Hội trong hai số đặc biệt gần đây đã in hai truyện ngắn của anh một tác giả tỉnh lẻ không tên tuổi không một lần “A lô” với BBT điều đó thật đáng trân trọng. Không những thế đó còn là mơ ước của một số nhà văn ngực đeo huy hiệu nhưng chưa thấy có truyện ngắn nào ra hồn được in trên báo nhất là báo Văn nghệ.

     Báo phát hành ngày 30-4 nhưng ngày 28-3 đã có bán ở quầy bưu điện. Anh Đắc đã mua vài tờ và đem đến tặng tôi một tờ. Trên nét mặt anh lộ rõ sự vui mừng. Đó là cái vui của một bác nông dân cần cù vừa được mùa bội thu bõ những ngày cuốc cày mưa nắng.

     Xin chia sẻ chân tình cùng tác giả.  

 

                                                                N. A. Đ

alt

alt

More...

Xem tranh Đỗ Ngọc Dũng

By Nguyễn Anh Đào

HỒN DÂN TỘC TRONG TRANH ĐỖ NGỌC DŨNG

 

                                                  Nguyễn Anh Đào 

 

     Cách đây mấy năm tại nhà 29 Hàng Bài Hà Nội đã có cuộc triển lãm tranh của Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng. 41 bức tranh sơn dầu khổ lớn của anh được trư­ng bày trang trọng tại phòng chính nhà triển lãm đúng vào dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9. Đây là một sự kiện nổi bật trong giới Mĩ thuật không chỉ của Phú Thọ mà còn gây được tiếng vang trong cả n­ước. Tôi có may mắn đ­ược chứng kiến sự có mặt của hàng trăm quan khách đến từ các tỉnh Ninh Bình Hải D­ương Thái Nguyên Vĩnh Phúc Hà Nội... để xem tranh và chúc mừng tác giả trong buổi khai mạc cùng với hàng trăm bức điện hoa từ Vũng Tàu Quảng Ninh Cao Bằng Đà Lạt... gửi tới.

alt

             Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng

     Mọi ng­ười đến với tranh Đỗ Ngọc Dũng không chỉ vì anh là Chủ tịch Hội VHNT tỉnh có quan hệ rộng rãi mật thiết với nhiều đối tư­ợng mà cái chính vì tranh anh thể hiện đ­ược cái hồn của dân tộc mang đậm hơi thở cuộc sống của miền đất trung du Phú Thọ nơi phát tích của nền văn hiến ngàn năm.

     B­ước vào thế giới tranh của Đỗ Ngọc Dũng ng­ười xem đứng lặng trước “Nét ông cha” bức tranh có kích cỡ lớn (150 x 150cm) với những đư­ờng nét những mảng màu vừa tự nhiên vừa trang trọng tái hiện quá khứ lịch sử từ thời Hùng V­ương dựng nư­ớc. Rồi bức “Đền Th­ượng” (120 x 140cm) mang dáng vẻ cổ kính u trầm gợi không khí sâu lắng tôn nghiêm. Cũng ở mảng đề tài này còn có “Nhịp trống đồng” “Gióng” “Hạnh phúc An Tiêm” là những tác phẩm làm thức dậy trong lòng ng­ười xem đời sống tâm linh h­ướng về cội nguồn dân tộc.

     Nhìn chung tranh sơn dầu của Đỗ Ngọc Dũng phong phú về đề tài đa dạng về cách thể hiện như­ng ng­ười xem vẫn thấy nổi lên những nét đặc sắc quen thuộc khi tác giả thể hiện cảnh thiên nhiên và cuộc sống con ngư­ời trên quê h­ương Đất Tổ. Các bức “Buổi sáng Trung du” “Đốm trắng trên đồng” “Cọ” “Quê hương” “Bên dòng suối”... là những tác phẩm mà ngư­ời họa sĩ tài hoa đã gửi vào đó tất cả những tình cảm sâu nặng của mình với miền đất “Rừng cọ đồi chè” nơi anh sinh ra và lớn lên. Chỉ vài nét đơn giản với gam màu nâu nhạt chiếm lĩnh toàn bộ nền vải bức “Cọ” tuy treo ở góc trong của phòng tranh như­ng vẫn “hút” đ­ược hàng trăm con mắt hư­ớng vào. Bao đời nay cây cọ vẫn đứng liêu xiêu lá xoè tán biếc hứng mưa vẫy gió trên mảnh đất đồi gò cỗi cằn sỏi đá trung du. Nhưng khi đi vào tranh của Đỗ Ngọc Dũng cọ trở nên hiên ngang khí tiết càng nhìn càng thấy những nét mới. Trong lĩnh vực hội hoạ th­ường là nh­ư vậy. Có khi chăm chút quá lại không thành. Ngược lại chỉ phớt bút qua vài nét thì lại đ­ược. “Cọ” là một bức tranh xuất thần như­ thế.

     Cái tài của ng­ười nghệ sĩ là có con mắt nhìn thấu bản chất của sự vật từ những cái rất thông th­ường để rồi thể hiện nó bằng thứ ngôn ngữ đặc trư­ng đặt tên cho nó và đ­ưa nó ra khỏi cái trạng thái vô tri tầm th­ường. Bức “Nốt nhạc” đâu chỉ là hình ảnh những ngư­ời đi mò tôm vợt tép mà là sự biến hoá kỳ ảo của ánh sáng. Cái làm nên sức mạnh kỳ diệu đó của hội hoạ đã đ­ược Đỗ Ngọc Dũng sử dụng như­ là một thứ chất liệu sẵn có ở anh khiến ta xem tranh mà như­ đang đi vào thế giới huyền thoại.

     Trong số hàng trăm tác phẩm hội họa của Đỗ Ngọc Dũng ngoài những bức vẽ phong cảnh thì tranh về cuộc sống sinh hoạt của con ng­ười chiếm một tỷ lệ tương đối nhất là tranh về thiếu nữ. Các bức “Tắm trăng” “Một đêm trư­ớc biển” “Thiếu nữ với mùa xuân” “Trăng non trên hồ” “Nữ sinh”... cho thấy ngọn bút của tác giả không ít lần h­ướng về cái đẹp thanh khiết tới mức thánh thiện của giới nữ đang độ thanh xuân. Những mái tóc tãi ra lả lơi trong gió những thân hình mềm mại ẩn hiện trong mờ mờ s­ương khói những tà áo th­ướt tha những vành nón trắng... Tất cả đều đáng đ­ược tôn vinh. Nh­ưng có lẽ ở mảng tranh này đôi khi tác giả đã “Lực bất tòng tâm” ch­ưa v­ượt lên đư­ợc so với các danh họa lớp trư­ớc như­ Tô Ngọc Vân Trần Văn Cẩn Lưu Công Nhân... Tuy vậy với bức “Thiếu nữ M­ường” anh mới hoàn thành đã để lại ấn t­ượng sâu sắc cho ng­ười xem. Đó là bóng dáng những cô gái Thái xúng xính váy dài áo cóm vòng cổ vòng tai trong ngày hội xuân hồn nhiên xinh đẹp nh­ư những bông hoa thanh khiết của núi rừng Tây Bắc.

     Là một hoạ sĩ trẻ đa tình hẳn là Đỗ Ngọc Dũng đã từng nhiều phen xao xuyến rung động tr­ước những vẻ đẹp đầy bí ẩn của những bông hoa đời. Ấy mà cũng lạ khi ng­ười xem thấy bút lực của anh bất ngờ dồn tụ cho bức “Một dáng chiều”. Nhiều ng­ười tấm tắc ngợi khen bức tranh này. Đó là hình ảnh một bà mẹ nhà quê già nua l­ưng còng tay chống gậy tay cầm nón mê đang b­ước đi giữa cảnh chiều đông giá rét. Mẹ đi về đâu giữa cái không gian mênh mông và xám xịt này! Thì ra trái tim của người nghệ sĩ không phải chỉ dành cho những bóng hồng tha thướt mà nó còn luôn cùng nhịp đập với những mảnh đời những kiếp ng­ười lầm lụi trong đó có những bà mẹ nghèo hẩm hiu số phận.

alt

                    Một dáng chiều

alt

                    Cùng cảnh ngộ

     Ngoài ra thế giới hiện lên qua tranh của Đỗ Ngọc Dũng ta thấy vừa quen thuộc vừa có những nét riêng độc đáo mà vốn từ ngữ nghèo nàn của chúng ta có lúc không diễn đạt nổi. Đó là những bức “Sự sống” “Quy luật nghiệt ngã” “Hành trình của sự sống”... Vừa siêu thực vừa lãng mạn. Trừu t­ượng nh­ưng không vô thể. Huyền bí ẩn dụ nh­ưng không phải là không tiếp cận đ­ược. Càng nhìn càng thấy ẩn chứa những quan niệm những triết lý nhân sinh sâu sắc.

     Xem tranh Đỗ Ngọc Dũng đòi hỏi ta phải đứng từ xa mà ngắm nghía một cách chậm chạp kỹ càng vì tranh của anh không làm ng­ười xem hoa mắt bởi những sắc màu rực rỡ. Có lẽ đó cũng là đặc trư­ng của chất liệu sơn dầu qua bút pháp tài hoa của Đỗ Ngọc Dũng. Chúng bình dị và chính xác nh­ưng không kém phần âm vang nh­ư mỗi khi ta nghe nhạc thính phòng hoặc đọc truyện “Lông chim nhạn” của Sao Mai. Có khi nó giống như­ một khúc đồng dao một lời ca ngân nga trong gió đầy âm hưởng lại có lúc r­ưng rư­ng xao xuyến nh­ư những giọt lệ yêu thương của mối tình đầu...

     Có ng­ười nói vẽ tranh là một nghề xa xỉ. Cứ tính một mét toan loại xịn một tuýp sơn dầu ngoại mỗi thứ cũng vài trăm ngàn. Một chiếc panh sô loại tốt cũng khoảng chừng ấy. Đó là chư­a kể những thứ khác nh­ư khung bay vẽ kìm đóng... Để làm ra một bức tranh hoạ sĩ phải có  vốn ban đầu mà giá trị của tranh là ở tính độc bản. Một bức tranh ra đời duy nhất chỉ có nó mới có tư­ cách để tồn tại mọi thứ phiên bản đều vô nghĩa. Vậy mà hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng đã v­ượt lên đ­ược những  cản trở về thời gian về tài chính để có một gia tài tranh đồ sộ hàng mấy trăm bức như­ ta đã thấy quả là đáng khâm phục.

      Ngoài hai mươi tuổi Đỗ Ngọc Dũng không chỉ có tranh triển lãm toàn quốc mà anh còn có tranh triển lãm quốc tế ở Liên Xô ở Phần Lan. Tranh Đỗ Ngọc Dũng từng đoạt giải cao của Liên hiệp các hội VHNT của Hội Mỹ Thuật và của Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam và nhất là giải thưởng Hùng Vương của tỉnh Phủ Thọ. Nhìn anh hàng ngày ở cơ quan hay những lúc gặp gỡ giao l­ưu bạn bè ai cũng nghĩ rằng con ng­ười ấy sinh ra là để quản lý và lãnh đạo để đi họp và ngồi bàn giấy. Như­ng không phải. Đỗ Ngọc Dũng trước hết là con người của công việc. Với cương vị là Chủ tịch Hội nay là Liên hiệp Hội anh luôn suy nghĩ và có những việc làm thiết thực nhằm đưa sự nghiệp VHNT của tỉnh vượt lên xứng tầm với vùng đất cội nguồn giàu truyền thống cách mạng. Đặc biệt anh rất quan tâm tới việc chăm lo quyền lợi và đời sống của hội viên nên được mọi người trẻ cũng như già đều quý mến và tín nhiệm.

     Khi b­ước chân về căn nhà bên đường Lê Quý Đôn thành phố Việt Trì mắc quần áo dài lên giá thì tất cả những cái gì gọi là hào hoa phong nhã Đỗ Ngọc Dũng gửi lại bên ngoài và lúc đó anh chỉ còn là một họa sĩ chuyên nghiệp miệt mài cặm cụi bên khung vải không phải chịu bất kỳ một áp lực nào mặc sức trải lòng mình cho nghệ thuật. Có lẽ đó là những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của ng­ười nghệ sĩ khi đ­ược tự do lao động và sáng tạo. Thiên nhiên và cuộc sống ùa vào nơi ấy qua lăng kính chủ quan của tác giả để rồi hiện hình trên khung vải.

     Một lần tôi đ­ưa nhà văn Nguyễn Quang Hà ở Thừa Thiên – Huế đến nhà  Đỗ Ngọc Dũng. Giữa mùa đông giá lạnh mà hoạ sĩ may ô quần cộc mũ le đội lệch đang trần lực bên xư­ởng vẽ giữa trăm thứ bộn bề. “Xin lỗi! Khách quý đến nhà mà ăn mặc thế này thật không tiện”. Anh nói. Như­ng nhà văn Nguyễn Quang Hà đã kịp rời phòng khách nhanh chân đi xem từng bức tranh dựng ở quanh t­ường có những bức hãy còn đang vẽ dở không để chủ nhà phải lúng túng. (Anh Hà cũng rất sành về hội hoạ có vợ là chị Quỳnh từng mang tranh sang triển lãm ở Pari – Pháp). Sau những lời nhận định về tranh của Đỗ Ngọc Dũng anh Hà nói riêng với tôi: “Dũng là một hoạ sĩ tài năng. Anh đang tích tụ nội lực cho ngày mai. Một cuộc triển lãm tầm cỡ sớm muộn rồi sẽ đ­ược thực hiện”.

     Câu nói đó của ng­ười khách Huế ít lâu sau đã thành hiện thực. Và không biết có chủ quan không hay là còn quá sớm để khẳng định rằng tranh sơn dầu của Đỗ Ngọc Dũng trong đó có “Một dáng chiều” “Tiếng than của đại ngàn” “Dấu ấn thời gian” “Nét xưa” “Cọ”… là những tác phẩm để đời. Phải nói đóng góp đó của anh là đáng kể đối với nền hội họa n­ước nhà tạo nên một cụm tác phẩm xứng đáng đề nghị Nhà nước trao giải thưởng. Xin hãy chờ kết quả của sự sàng lọc khách quan.

 

                                                                                                 N. A. Đ

 

 

More...

Giới thiệu tập Tình Núi

By Nguyễn Anh Đào

 

                                Đốm sáng từ góc rừng

 

                                                                       Hoàng Việt Quân

 

          Tôi hay ngồi ở góc cơ quan Hội Văn học Nghệ Thuật tỉnh Yên Bái tỉ mẩn như một người đeo giỏ vào rừng bới lá đi tìm hạt găng hạt dẻ lật giở hàng đống giấy tờ trong những tập hồ sơ lưu trữ cũ của Hội Văn nghệ Lào Cai và sau đó là Hoàng Liên Sơn lúc thì xem xét ghi chép lúc lại sắp xếp cho có thứ tự theo thời gian và theo từng loại công việc bởi chỉ sợ người ta để lộn xộn làm mất mát hoặc đem bán cho người mua giấy loại hay đốt bỏ đi. Có người bảo tôi giở chứng lẩm cẩm nhưng mặc họ vì tôi thấy loại giấy tờ cũ rách ấy quý lắm. Chúng là bằng chứng sống không gì có thể thay thế được về những hoạt động Văn học Nghệ thuật ở địa phương một thời đang lặng lẽ đi vào quá khứ.

alt 

          Gặp lại Lào Cai: Từ trái: Hoàng Việt Quân Nguyễn Thị Minh Thông Trần Hữu Sơn Ma Văn Kháng Nguyễn Anh Đào

         Một hôm tình cờ tôi nhặt được một văn bản đánh máy đã rách nát của Ban vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai do ông Vi Khánh Vinh Trưởng ban (Nguyên Thường vụ Tỉnh uỷ Lào Cai) ký xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên ngày 2-10/1972 để tiến tới chính thức thành lập Hội trong tháng 11 năm đó. Theo văn bản này thì có 50 văn nghệ sĩ được công nhận là hội viên. Ngoài ra văn bản còn ghi rõ: "Hai cộng tác viên tích cực là Trịnh Thoại và Nguyễn Anh Đào được xét nhưng kết nạp vào đợt sau". Chắc là ý lãnh đạo muốn tránh sự xô bồ đánh trống ghi tên nhất là đối với tổ chức chính trị xã hội và nghề nghiệp luôn được coi là sang trọng và danh giá này.

          Từ nhỏ thời còn là học sinh phổ thông cấp 3 tôi đã từng đọc tác phẩm của Nguyễn Anh Đào khi mà Hội Văn nghệ Lào Cai chưa được thành lập. Lúc đó anh viết truyện ngắn và làm thơ. Sáng tác của anh được in đều trên các ấn phẩm của Ty Văn hoá Thông tin tỉnh Lào Cai. Rất tiếc do việc lưu trữ sách báo và các tập sáng tác không tốt trong điều kiện chiến tranh rồi nhập tỉnh tách tỉnh nên khó tìm lại những bài viết của tác giả này một cách đầy đủ. Chỉ xin tạm kể ra đây những tác phẩm của anh mà tôi được đọc và tìm thấy trong đống bề bộn những giấy tờ và sách báo cũ ẩm mốc kia. Đó là: Truyện ký "Cái phích nước" in trong tập Văn thơ chọn lọc 1964-1972 do Ty VHTT và Hội VHNT Lào Cai xuất bản năm 1972. Truyện ngắn "Đứa con yêu" và Tuỳ bút "Mùa xuân màu xanh và cây súng" đều in trong các tập Văn hoá Văn nghệ do Ty VHTT Lào Cai xuất bản trong các năm 1965 và 1967. Truyện ngắn "A Ly A Măng" in trong tập Măng non do Ty VHTT và Uỷ ban Thiếu niên Nhi đồng tỉnh xuất bản năm 1973. Truyện ngắn "Một đoạn đời của bà Phó Chủ tịch huyện" in trong tập Sáng tác Văn nghệ của Ty VHTT và Hội VHNT Lào Cai tháng 9/ 1973. Ngoài ra anh còn có một một số bài thơ được in ở Lào Cai như "Gặp em" "Mùa Thu đến trường". "Đi giữa mùa cam"... trong đó bài "Đi giữa mùa cam" được giải thưởng cuộc thi thơ về đề tài nông nghiệp và được tuyển chọn in trong tập Hương rừng do Hội Văn nghệ Hoàng Liên Sơn xuất bản năm 1976. Nguyễn Anh Đào cho biết lúc đầu anh làm thơ về sau do ảnh hưởng Ma Văn Kháng và Bùi Nguyên Khiết nên đã bỏ thơ và chuyên viết văn xuôi.

          Nguyễn Anh Đào là ai? ở đâu? Sao lâu nay không thấy viết nữa? Câu hỏi đó đặt ra sau khi tôi đi bộ đội và công tác ở trường Đại học Sư phạm Việt Bắc trở về Lào Cai rồi Yên Bái. Hỏi thăm mãi mới biết anh được kết nạp vào Hội năm 1974 rồi sau đó chuyển vùng về tỉnh Vĩnh Phú dạy học. Từ đó tôi cứ băn khoăn khó có cơ hội gặp được anh. May quá vào dịp Trại sáng tác do Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức ở Hà Nội tháng 8/2000 mà tôi đi dự trong đó có anh. Cái tên tác giả mà lúc đầu tôi cứ nghĩ là "đàn bà" ấy không ngờ lại là một "quý ông" ngoại lục tuần dáng người thấp đậm nhưng lộ rõ phong thái nhà giáo mô phạm tác phong điềm đạm mẫu mực được anh em tín nhiệm cử làm Trại phó. Qua  nhà thơ Minh Thông người phụ trách Trại giới thiệu nên tôi càng biết rõ về anh. Lại đúng dịp nhà văn Ma Văn Kháng đến nói chuyện với các trại viên rồi các anh Trần Tế Nguyễn Huy Hoà đến thăm. Người Lào Cai cũ gặp nhau ở Thủ đô tay bắt mặt mừng có bao nhiêu là chuyện để nói. Anh tặng tôi cuốn "Câu chuyện bên hồ" tiểu thuyết đầu tay của anh vừa mới lấy ở Nhà Xuất bản Hội Nhà văn về.

          Cuối năm 2002 tôi lại gặp Nguyễn Anh Đào trong Đại hội lần thứ V Hội VHNT tỉnh Lào Cai và lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội. Anh được mời với tư cách là hội viên cũ và là tác giả được giải thưởng VHNT Phăng Xi Păng lần thứ nhất cho truyện ngắn "Lân và Ly". Những ngày ở đây anh sống tran hoà trong tình bạn bè một thời văn chương cũ nơi mảnh đất biên cương núi non ngút ngàn trùng điệp. Anh tặng tôi tiểu thuyết thứ hai của mình cuốn "Bóng thời gian" (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2002) trong đó có một số chương miêu tả cuộc sống của người giáo viên vùng cao với bút pháp trữ tình khá ấn tượng. Anh cho biết anh đang tập hợp và viết tiếp một số truyện ngắn về đề tài dân tộc và miền núi để in thành tập lấy tên là Tình núi để trả nghĩa với Lào Cai nơi suýt nữa thì anh lấy đó làm quê hương thứ hai của mình.

          Tác giả Nguyễn Anh Đào nói những năm tháng đẹp đẽ và sôi nổi nhất của cuộc đời anh đã cống hiến cho miền núi vùng cao nên bây giờ viết cái gì thì cảnh vật và con người nơi đó lại cứ trở về chiếm chỗ trong tác phẩm của mình như một tất yếu không thể nào khác được. Những truyện ngắn mà anh đưa vào trong tập này là những bức tranh sinh động về cảnh vật và con người miền núi vùng cao với đủ các cung bậc về đời sống muôn màu. Đó là hình ảnh người cán bộ dưới xuôi lên công tác ở Tây Bắc xa xôi trong điều kiện vô cùng gian khổ hiểm nguy có lúc kề bên cái chết (Ký ức Chiềng Khoa); là sự vật lộn vươn lên để tự giải phóng mình khỏi đói nghèo cũng như những tập tục lạc hậu và ma tuý của người dân miền núi (Chuyện sau cơn lũ Ông Súa đã ra đi Vườn mận nhà Phú Sình...); là những tấm gương say sưa tận tuỵ của các giáo viên cắm bản sống hết mình với núi rừng (ở Seo Mí Tỷ Nơi tận cùng); những tình yêu trai gái hồn nhiên và mãnh liệt sâu sắc gắn bó như rễ cây cắm vào lòng đất tới mức hoang dại sẵn sàng chết vì tình yêu (Tình núi Nơi tận cùng)...

alt                                (Giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các hôi VHNT Việt Nam)

           Hầu hết các truyện in trong tập đều viết về dân tộc và miền núi chứng tỏ vốn sống của tác giả về mảng đề tài này khá phong phú. Cùng với những trải nghiệm sau 14 năm gắn bó với Lào Cai đủ cho tác giả tái tạo hiện thực xây dựng nên những điển hình về cuộc sống và con người ở miền núi vùng cao một cách trung thực như chính nó không tô vẽ không nhại cười như một số người viết khác. Đó là sự phát quang của một đốm sáng từ góc rừng le lói cách đây bốn mươi năm về trước khi tác giả còn là hiệu trưởng trường Phổ thông cấp Một xã Tả Van huyện Sa Pa nơi có thắng cảnh Cầu mây có bản người H Mông với cái tên Seo Mí Tỉ ở độ cao trên hai nghìn mét được coi là cái thềm trước của đỉnh Phăng Xi Păng- nóc nhà của Tổ quốc với những sáng tác đầu tiên của anh khi đó còn mộc mạc thô sơ như tấm váy của phụ nữ người H Mông chưa được lăn sỏp ong và thêu chỉ màu...

 

                                                                           H. V. Q

 

More...

Đàn bà trong phủ chúa

By Nguyễn Anh Đào

                               Sắc đẹp và bản lĩnh

          Chúa Trịnh Sâm có khoảng 400 vợ nhưng nổi tiếng chỉ có 3 người. Đó là chính phi Hoàng Thị Khoan người xinh đẹp tỏa hương thơm nên được gọi là Ngọc Hương. Tuy được Chúa yêu chiều nhưng nàng Khoan chỉ sinh được hai cô con gái là Ngọc Anh và Ngọc Lan. Mà trong xã hội phong kiến đã là phi tần mà không có con giai thì dẫu xinh đẹp đến đâu  vị thế cũng không có gì đảm bảo.

alt

          Người thứ hai là thứ phi Dương Ngọc Hoan. Ngọc Hoan không có tài sắc gì song nhờ có chị gái là cung tần của Trịnh Doanh tức bố Trịnh Sâm nên được kén vào cho Trịnh Sâm. Vì vậy nàng sống lạnh lẽo cô quạnh không được Sâm đoái hoài đến. Một đêm Ngọc Hoan nằm mơ thấy một vị thần đưa cho một tấm đoạn vẽ hình đầu rồng. Không hiểu là điềm gì nàng hỏi hoạn quan Khê Trung hầu. Ông này nói đó là điềm sinh chúa.

Hôm sau Trịnh Sâm cho vời Ngọc Khoan. Viên hoạn quan cố ý nghe lầm liền đưa Dương Ngọc Hoan đến. Thấy nàng Sâm có vẻ không thích nhưng không nỡ đuổi. Sau đêm đó Sâm gọi quan thị đến trách mắng. Khê Trung hầu đành chối quanh cho rằng mình nghe nhầm Khoan lại tưởng là Hoan. Và cũng sau lần đó Ngọc Hoan có thai rồi sinh ra Trịnh Tông.

          Người thứ ba là Đặng Thị Huệ. Huệ quê làng Phù Đổng huyện Đông Anh Bắc Ninh nay thuộc Hà Nội vốn con nhà dân thường là một nữ tỳ hầu hạ trong phủ chúa. Huệ rất xinh đẹp và duyên dáng lại có tài mẹo  quyến rũ đàn ông. Một hôm Huệ bưng một khay hoa đến trước mặt Chúa. Thấy Huệ mắt phượng mày ngài vẻ người hấp dẫn Trịnh Sâm liền đem lòng yêu mến đặc biệt. Nói về cách giao tiếp cùng bí thuật chốn phòng the thì tất cả những người vợ của Chúa đều không ai bằng. Với cung nữ khác chỉ vài lần là Chúa chán. Nhưng với Huệ chỉ một lần ân ái Trịnh Sâm đã cảm thấy mê mệt và như gắn chặt với nàng. Từ đó Huệ nói gì Sâm đều nghe và có việc gì Chúa cũng nói với Huệ. Thị Huệ được sống cùng một nơi với Chúa. Bữa ăn có Huệ Chúa ăn mới ngon miệng. Xe kiệu quần áo của Huệ đều được sắm sửa như đồ dùng của Chúa. Từ một nô tỳ Huệ được phong chức Tiệp dư rồi Tư dung và cao nhất là Tuyên phi. Từ đó Thị Huệ ngày càng lộng hành. Hễ có chuyện không vừa ý là xây xẩm mặt mày kêu khóc thảm thiết khiến Chúa rối lòng.

            Trịnh Sâm có viên ngọc dạ quang chiến lợi phẩm của một trận đánh phương Nam vẫn treo ở đầu khăn làm đồ trang sức. Một hôm Thị Huệ lấy tay mân mê viên ngọc. Chúa nói:
          - Nhè nhẹ tay kẻo sây sát!
          Thị Huệ liền ném viên ngọc xuống đất tru tréo kêu khóc:
         - Ngọc này chả là cái gì sất! Chẳng qua sai người vào Quảng Nam kiếm trả Chúa hạt khác là cùng. Sao Chúa nỡ trọng của khinh người làm vậy?
         Đoạn Thị Huệ bỏ ra ở cung khác từ chối không gặp Chúa nữa. Trịnh Sâm phải dỗ dành mãi Huệ mới chịu làm lành.
         Tuy sớm tối bên Chúa nhưng Huệ lâu có thai mặc dù uống đủ sâm nhung quế phụ rồi sai người lễ bái khắp các đền chùa mong sinh con thánh. Năm Đinh Dậu (1777) Huệ sinh con trai đặt tên là Cán được Chúa rất cưng chiều.

        Nhưng con của Ngọc Hoan là Trịnh Tông lúc này đã 15 tuổi. Sâm vì không yêu Ngọc Hoan nên không muốn lập Tông làm Thế tử. Nhân đó Thị Huệ tìm được người có thế lực trong phủ là Huy quận công Hoàng Đình Bảo rồi câu kết với người này để mưu phế Trịnh Tông lập Trịnh Cán lên ngôi chúa.
        Trịnh Tông thấy Chúa lạnh nhạt với mình lại biết được âm mưu của Đặng Thị Huệ và Quận Huy nhân Trịnh Sâm ốm nặng sắp chết phe Trịnh Tông liền bàn kế định bắt giam hai mẹ con Thị Huệ để giành ngôi chúa về mình. Không ngờ Trịnh Sâm lại khỏi bệnh việc bại lộ. Tông bị biếm truất làm con thứ và cùng mẹ là Ngọc Hoan bị tống giam. Phải đến khi Thái phi tức mẹ Trịnh Sâm xin cho mới được thả. Từ đó phe cánh của Thị Huệ ngày càng mạnh lấn át triều đình nhà Chúa.
        Thị Huệ hối thúc Trịnh Sâm lập Cán lên ngôi Thế tử. Bề tôi của Trịnh Sâm cũng a dua hùn vào. Nhưng vì Thái phi can ngăn nên Sâm chưa quyết. Cuối cùng do thúc giục của Huệ Trịnh Sâm lập Cán làm Thế tử dù Cán lúc này mới lên năm tuổi. Sâm dùng Quận Huy làm thầy dạy Cán.
         Trịnh Sâm bị bệnh trĩ luôn ở trong cung không bao giờ đi ra ngoài. Đặng Tuyên phi nhân cơ hội liền tự ý xếp đặt công việc gài tay chân giữ những cương vị then chốt trong phủ chúa. Lại sớm tối cặp kè với Hoàng Đình Bảo toan tính mọi việc. Vì thế trong dân chúng lan truyền câu:
Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy quận vào sờ chính cung
.
          Năm Tân Sửu (1781) bệnh tình của Sâm nặng thêm và qua đời. Thị Huệ thông đồng với Quận Huy lập Cán lên ngôi chúa. Tuyên phi nghiễm nhiên trở thành người điều khiển triều chính giúp con. Lòng người lo sợ từ phủ chúa ra kinh thành tới thôn dã ai cũng biết chắc hoạ loạn sẽ xảy ra.

          Quả như vậy. Tháng 10 năm Tân Sửu (1781) binh lính Tam phủ nổi loạn truất ngôi Cán đập phá nhà cửa giết Hoàng Đình Bảo cùng thân thuộc phe cánh. Họ đón Trịnh Tông lên ngôi vương phong là Nguyên soái Đoan Nam vương. Phe cánh Đặng Thị Huệ bị truy lùng và trả thù. Huệ bị truất xuống thứ nhân. Hôm việc biến xảy ra Đặng Thị Huệ khiếp sợ quá phải thay đổi quần áo nấp ở hậu cung. Trịnh Cán bị giáng xuống làm Cung quốc công rồi hơn tháng sau thì phát bệnh chết.
        Trịnh Tông lên ngôi Dương Ngọc Hoan được phong Thái phi liền sai người bắt Tuyên phi Đặng Thị Huệ hỏi tội buộc Huệ phải lạy tạ. Tuyên phi không chịu lạy Thái phi bèn sai hai thị nữ đứng kèm hai bên níu tóc Tuyên phi rập đầu xuống đất nhưng Huệ vẫn nhất định không chịu lạy mà cũng không nói nửa lời. Thái phi giận quá đánh đập một hồi nhổ nước bọt vào đầu vào mặt rồi đem giam vào nhà Hộ Tăng ở vườn sau. Tại đây Đặng Thị Huệ bị làm tình làm tội cực kỳ khổ sở.

         Một bữa Huệ trốn ra khỏi cửa Tuyên Vũ chạy đến bến đò phố Khách thì bị quân lính đuổi kịp. Khi giáp mặt với Thái Phi Thị Huệ nói: “Sao bà không nghĩ lại thân phận mình khi bị Chúa bỏ rơi. Rồi chuyện xẩy ra năm Canh Tý (1780 tức việc phe cánh Trịnh Tông định đoạt ngôi chúa bị bại lộ) lúc đó nếu tôi cũng ra tay thì bà sẽ ra sao?”. Bấy giờ Ngọc Hoan mới thôi.
        Sau một thời gian bị giam giữ ngặt Thị Huệ được cho làm cung tần nội thị vào Thanh Hóa hầu hạ lăng tẩm chúa Trịnh Sâm. Ở đây Thị Huệ ngày đêm gào khóc xin được chết theo chồng. Đến ngày giỗ của chúa Trịnh Sâm Tuyên phi uống thuộc độc mà chết.

         Một người đàn bà tài sắc tuyệt vời như Đặng Thị Huệ lại muốn tranh giành quyền lực mưu đồ chính trị nhưng đã thất bại vì Tuyên phi thiếu bản lĩnh tàn bạo của một Võ Tắc Thiên. Mà trên chính trường để giành lấy quyền lực thì sắc đẹp và mẹo thuật quyến rũ đàn ông chưa thể cho là đủ. Đành rằng thiên hạ đã có câu: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”.

More...

Chuyện nhàn đàm

By Nguyễn Anh Đào

                                Xuân – Thu chữ và nghĩa

         Hai chữ Xuân và Thu một khi đi liền nhau dù là người không biết chữ Hán thì cũng vẫn hiểu đó là tên gọi của hai mùa trong năm. Một năm có 4 mùa thì mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa có khi hậu tương đối ôn hòa. Sau những ngày đông giá mùa xuân đến tiết trời ấm áp cây cối đâm trồi nảy lộc đơm hoa kết trái. Mùa Thu tiếp sau mùa hạ tiết trời mát mẻ gió Bắc thổi về se lạnh. Hoa cúc nở vàng. Trái cam trái hồng chín rực… Mùa Xuân có ngày 21 tháng 3 mùa Thu có ngày 23 tháng 9 là hai ngày xuân phân và thu phân tức ngày mà ánh sáng mặt trời chiếu thẳng góc xuống xích đạo chia thời gian ngày và đêm ở hai bán cầu Bắc Nam bằng nhau.

alt

                                             Thời đại Xuân Thu

        Tóm lại mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa đáng yêu; hai chữ Xuân – Thu vì thế cũng luôn mang một khái niệm đẹp. Cha mẹ thường đặt tên cho con là Xuân hoặc Thu nếu không tên chính thì cũng là tên đệm. Ví như Xuân Diệu Xuân Hương Xuân Tình Xuân Hồng Xuân Mai… Hay như Thu Phương Thu Viễn Thu Phong Thu Hoài… Có người dùng cả làm tên chính và tên đệm như Xuân Thu (Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ - Đỗ Xuân Thu). Nếu Xuân Diệu có nghĩa là mùa xuân kỳ diệu Xuân Hương là hương mùa xuân Xuân Tình là mối tình mùa xuân thì Xuân Thu là chỉ có mùa xuân và mùa thu thôi. Vì thế mà Nhà thơ họ Đỗ còn có bút danh là Phi Đông Hạ có nghĩa là dứt khoát không phải mùa đông hay mùa hạ. Đó là cách ghép tên chính phụ để làm rõ một khái niệm. Nhưng Xuân tóc đỏ hay phở Xuân béo cà phê Thu còi thì lại khác. Trong trường hợp này người ta gắn vào tên gọi chính một đặc điểm về hình dáng hoặc nghề nghiệp của ai đó để dễ phân biệt.

        Cứ tưởng như vậy thì không có điều gì còn phải bàn. Thế nhưng có những trường hợp Xuân – Thu lại không phải là mùa xuân và mùa thu mà hai chữ Xuân - Thu lại mang một khái niệm khác vừa cụ thể vừa trừu tượng. Ví như: Xuân Thu là tên gọi một thời đại hay một giai đoạn lịch sử từ năm 722 đến 481 trước Công nguyên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ cuốn sử biên niên có tên gọi là Kinh Xuân Thu trong bộ ngũ kinh do Khổng Tử viết ra. Đó là thời kỳ chiến tranh liên miên nước nhỏ bị sáp nhập vào nước lớn. Thời kỳ đó việc học hành được mở rộng kỹ thuật tiến bộ trí thức phát triển. Tiếp sau thời Xuân Thu là thời Chiến Quốc kéo dài cho đến năm 256 trước Công nguyên thì các nước bị nhà Tần tiêu diệt chấm dứt thời kỳ phân tranh quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Trung Hoa. Vì vậy Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc có nghĩa là thời kỳ loạn lạc chiến tranh chinh phạt và thôn tính giữa các nước.

        Sau Kinh Xuân Thu của Khổng Tử còn có cuốn dã sử có tên gọi Phong Kiếm Xuân Thu nói về thời kỳ Tần Thủy Hoàng đánh dẹp các nước để thống nhất Trung Hoa.

        Ở Việt Nam vào thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn cũng có một cuốn sách mang tên Hoàng Việt Xuân Thu. Đây là cuốn lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống quân Minh của quân dân Đại Việt.

        Xuân – Thu có khi không hoàn toàn là ý nghĩa một giai đoạn lịch sử. Ví như: Lã Thị Xuân Thu một cuốn sách của Lã Bất Vi vị Thừa tướng nước Tần thời Chiến Quốc. Trong đó ông viết những điều mình biết mình thấy như trời đất muôn vật xưa nay…

        Xuân – Thu có khi lại chỉ những công việc thường kỳ diễn ra tuần tự trong năm như xuân thu nhị kỳ. Có khi là nói về sự quan tâm thăm viếng một cách thờ ơ lạnh nhạt đá gà đá vịt đối với một đối tượng nào đó. Nhưng trong các đạo sắc ở các đền miếu ghi Xuân Thu tế lễ thì lại phải hiểu là những ngày trọng lễ hàng năm phải tiến hành đầy đủ lễ nghi không được sơ sài. Đó là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đượm màu sắc hòa bình hoan lạc thường có ở các làng quê.

        Vào những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ trước ở nước ta một nhóm người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật theo một trường phái nhất định đã lấy tên là nhóm Xuân Thu Nhã Tập với các nhân vât tên tuổi như kịch sĩ Đoàn Phú Tứ thi sĩ Nguyễn Xuân Sanh nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung nhà văn Nguyễn Văn Hạnh nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Ngọc… Nhóm này hoạt động từ năm 1942 cho đến Cách mạng tháng 8 – 1945 đã gây được tiếng vang thời bấy giờ.

        Một ý nghĩa nữa của hai chữ Xuân – Thu là sự thay đổi của thời gian với những chuyển dời xê dịch khác nhau. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Xuân Thu biết đã đổi thay mấy lần” – câu 2858 ý nói cuộc đời nàng Kiều từ khi bán mình chuộc cha đến nay đã xẩy ra biết bao sự việc.

        Trên đây là những khái niệm khác nhau của hai chữ Xuân – Thu mặc dù trên tự dạng (chữ Hán () vẫn mang nghĩa mùa xuân và mùa thu nhưng lại được dùng với ý nghĩa không phải là mùa xuân và mùa thu nữa.

        Có thể còn có những ý nghĩa khác mà người viết bài này chưa tìm ra mong các bạn cùng phát hiện.

More...

Nữ sĩ Ngân Giang

By Nguyễn Anh Đào


Nữ sĩ Ngân Giang và bài thơ

"Trưng Nữ Vương"


           Nữ sĩ Ngân Giang sinh năm 1916 mất năm 2002. Sinh thời bà làm trên 4000 bài thơ. Có thể nói bà là một trong số ít người có tác phẩm thơ nhiều nhất Việt Nam.

           Là một nhà thơ nữ thời tiền chiến Ngân Giang đã để lại nhiều áng thơ bất hủ như "Tiếng vọng sông Ngân" "Bạch Đằng giang" "Thu về" "Vương Tường"... Và đặc biệt là bài "Trưng Nữ Vương".

 


 

More...

Giới thiệu tác phẩm

By Nguyễn Anh Đào

 

Giới thiệu "Một thời lính" của Trần Như Đắc

Sáng ngày 16 - 2 / 2011 tại thành phố Việt Trì Hội liên hiệp VHNT Phú Thọ và Chi hội Văn xuôi của Hội đã tổ chức giới thiệu tập truyện & ký "Một thời lính" của tác giả Trần Như Đắc Thượng tá quân đội nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự tỉnh Vĩnh Phú (đã nghỉ hưu). Đây là một việc làm rất có ý nghĩa mở đầu cho những hoạt động sáng tác và quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật  năm 2011 cũng như chương trình công tác của Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ sau Đại hội khóa VII nhiệm kỳ 2010 - 2011. Tới dự có đông đủ các nhà văn các tác giả văn xuôi trong tỉnh đại diện các chi hội chuyên ngành và một số bạn bè của tác giả thời quân ngũ cũng như bạn học từ thời trường cấp 3 Hùng Vương Phú Thọ.

 


 

 

More...

Chữ Xuân trong Truyện Kiều

By Nguyễn Anh Đào

                                             

                  Ý nghĩa đặc biệt của chữ "Xuân"

  trong truyện Kiều

                                                                                                                                       Nguyễn Anh Đào

Nhân ngày xuân mới mở trang Kiều ra đọc. Trong số 3254 câu thơ lục bát ta thấy có tới 56 câu có chữ "Xuân". Ở mỗi câu chữ "Xuân" lại mang ý nghĩa khác nhau. Nhưng có một chữ "Xuân" mà Nguyễn Du dùng rất kín đáo nếu đọc Kiều mà lướt đi thì có khi không phát hiện ra. Cái chữ Xuân này tuy vẫn mang ý nghĩa mùa xuân () nhưng Nguyễn Du đã "đẩy" nó đi xa hơn khiến khi phát hiện ra ta mới ngỡ ngàng và không khỏi nghiêng mình bái phục.

 


 

More...

Tết năm Mão nói chuyện mèo

By Nguyễn Anh Đào

                                                                       

                                        Thật oan cho mèo

                                                                       Nguyễn Anh Đào

Truyện ngắn "Chỉ tại con mèo" của Nhà văn Nam Cao đại ý: Buổi tối mùa hè nóng bức. Hai vợ chồng anh Cu sau một ngày lao động vất vả. Mâm cơm cái Viền (con ở) bưng ra chỉ có đĩa muối vừng. Chị Cu nhét đầu bú vào miệng thằng Cu cố ru cho nó ngủ để cùng cả nhà đi ăn cho xong bữa. Thằng Cu bắt đầu thiu thiu. Chị Cu khẽ đặt nó nằm xuống võng thì con mèo ở đâu lò dò đến cạnh mâm cơm. Anh Cu quát: "- Mèo! Đuổi nó đi! Mèo!". Thế là thằng Cu giật mình khóc thét lên. Chị Cu ru thế nào nó cũng không ngủ nữa. Nóng như thiêu thế này mà ấp thằng bé vào người miệng à ơi tay rung rẫy thì bố ai chịu được. Chị Cu chưởi chồng là đồ cục súc. Anh Cu cũng chưởi lại rồi đá tung mâm cơm ra sân vỡ mất hai cái bát và cái niêu đất. Chị Cu càng gào to chạy ra vườn. Chán mồm chị vào giường nằm. Thằng Cu lúc này đã được cái Viền ôm ngủ trên võng. Còn anh Cu thì lăn ra hè kéo gỗ. Nửa đêm mưa gió giời mát hẳn anh Cu tỉnh lại mò vào giường vợ...

 


 

Họ làm gì với nhau thì trong truyện không kể. Nhưng sáng dậy chị Cu lay chồng gọi: "- Phải gió! Dậy đi! ... sáng rồi. Dậy đi ra chõng kia mà nằm!". Anh ừ à chưa dậy ngay. Chị lại giục: "Nỡm lắm! Có ra chõng nằm không? Cái Viền nó biết nó lại không cười cho là trò trẻ. Mới giận nhau chập tối nửa đêm đã...".

Cứ theo câu chuyện thì chỉ tại con mèo mà vợ chồng anh Cu xô xát vỡ oan hai cái bát và cái niêu. Và cũng vì con mèo mà hai vợ chồng anh Cu có một đêm hạnh phúc ngủ ngon?

Thật oan cho con mèo quá! Vì mâm cơm chỉ có đĩa muối vừng mà thứ đó thì giống mèo lại không ưa. Còn niêu cơm thì vẫn đậy vung kỹ. Nhưng quả tội nếu không có con mèo thì anh Cu cũng không quát thằng Cu cũng không thức dậy và tất sẽ không có chuyện vợ chồng anh Cu cãi chưởi nhau rồi lại làm lành với nhau một cách rất cổ điển.

Đó là trong văn chương. Còn trong đời sống thì mèo bị nhiều tiếng oan nữa. Người ta quan niệm: "Mèo đến nhà thì khó/ Chó đến nhà thì giàu". Trên ô tô và cả tàu thuyền chở khách chủ xe chủ tàu không cho mang theo mèo nhưng chó thì được. Họ tẩy chay mèo là bởi tiếng kêu "ngheo ngheo" của nó giống với tiếng "nghèo nghèo". Còn nghe tiếng chó sủa "gầu gầu" thì lại giống tiếng "giầu giầu" nên họ mới kiêng kỵ như vậy.

Không chỉ có thế. Người ta còn đưa cả con mèo vào chuyện nam nữ tình ái như:

"Anh có thương em thì anh làm giấy giao kèo

Ngón tay anh điểm chỉ em đây mới thiệt đúng con mèo của anh" - (Ca dao).

Khi người con trai thấy gái đẹp thường vồ vập thì có câu "Như mèo thấy mỡ". Thực ra thứ mèo thích ăn nhất là cá tôm rồi chim chuột nên mới có câu "Mèo mù vớ cá rán". Trong Hán tự chữ "miêu" là con mèo có khi cũng đọc là "miều". Câu "Ái ố mĩ miều" có nghĩa là cô gái lẳng lơ dẫu xinh đẹp thì cũng chỉ là thứ dơ bẩn. Chữ "mỹ" là đẹp nhưng đi với "miều" lại thành ra xấu. "Ăn nói mĩ miều" là nói những điều tốt đẹp bề ngoài còn trong bụng thì xấu xa. Con gái mà lăng nhăng mất nết bờ bụi với con trai thì được cho vào loại "Mèo mả gà đồng". Khi vua Bảo Đại còn trị vì một tờ báo lá cải hồi đó đã đăng một tin giật gân: Đức Kim thượng bị tai nạn khi đi săn mèo. Bài báo nói theo lối úp mở để độc giả nắm được một thông tin: Nhà vua đi "săn" gái bị tình địch bắn què.

Chuyện "Mèo tha miếng thịt thì đòi/ Cọp tha con lợn đứng coi mà rầu" là chuyện có thật ở đời. Nó còn nói lên cái tâm lý sợ kẻ mạnh hiếp đáp kẻ yếu vốn vẫn tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay. Đá nhọn và sắc nằm xếp đứng trên các lối mòn ở sườn núi giẫm lên có thể bị đâm rách bàn chân người ta gọi đó là "đá tai mèo" trong khi đó tai mèo thì rất mỏng và mềm mại như "chiếc mũ vải mềm" của anh linh Giải phóng thời chống Mỹ..

Khi ở tuổi bé thơ mỗi chúng ta ai là không được nghe bà nghe mẹ ru những câu:

"Con mèo mà trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo".

Những câu ca dao trên tuy mộc mạc có vẻ bình dân nhưng lại chứa đựng một triết lý: Những kẻ đại thù nghịch không thể sống chung với nhau nhưng vẫn có thể tạm hòa thuận bắt tay nhau khi có chuyện hiếu hỷ. Bài ca dao này ứng với câu thơ của Nguyễn Sĩ Đại trong bài "Nông dân":

"Con gà mất chưởi ba ngày quyết liệt

Con gái gả chồng cả xóm có trầu vui".

Mèo chịu nhiều tiếng oan nhưng trước sau mèo vẫn là con vật quý sống lâu đời với người. Từ xa xưa nhất là ở các làng quê Việt nhà nào cũng nuôi mèo để bắt chuột. Mèo được mọi người quý mến vì chúng sạch sẽ xinh đẹp lại hiền lành và ăn ít khi nằm thì co ro chiếm diện tích rất nhỏ.

Mèo thích giấu mình thường ngủ trên cao hoặc dưới gầm ghế. Việc "quan hệ tình ái" sinh đẻ rồi "đi vệ sinh" của mèo cũng rất kín đáo không để ai nhìn thấy. Mèo có bộ râu được coi là cơ quan xúc giác đặc biệt rất nhạy bén. Chỉ cần chạm nhẹ vào bất cứ vật gì là mèo có phản ứng ngay. Vì thế mà La fontaine   nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng của Pháp thế kỷ XVII có  bài "Hội đồng Chuột". Để khỏi tuyệt giống dưới nanh vuốt của mèo các chú chuột họp hội đồng bàn nhau. Chú chuột già dõng dạc phán:

 "Đem chuông mà buộc cổ mèo

Để cho khi hắn leo trèo tìm ta

Leng keng nghe hiệu là ta chạy

Ai cũng khen và lạy cụ Trùm..."

 

Kế rất hay rất có chủ trương đường lối. Nhưng chẳng chú chuột nào dám tiếp cận "Trạng Mỡ" khi ngài ngủ để buộc chuông vào cổ ngài.

Nhớ lại năm Kỷ Mão (1999) một tờ báo in một vế đối của một tác giả thách cả nước đối lại như sau:

"Năm Kỷ Mão cả nước nuôi mèo thử xem chuột còn hay hết". (Mão có nghĩa là mèo. Thử có nghĩa là chuột).

Tôi theo dõi đến nay vừa tròn một giáp song chưa tìm thấy vế đối thứ hai xuất hiện ở đâu. Nhân năm Tân Mão nói chuyện Mèo quý vị nào đọc được vế đối thứ hai hoặc tự đối được bớt thời gian thông tin lại. Xin chân thành cảm ơn.

                                                

                                                                          N. A. Đ

 

 

More...

Một thời lính của Trần Như Đắc

By Nguyễn Anh Đào

 

                                Một thời lính một thời đáng nhớ

                                             Nguyễn Anh Đào

Món quà đầu năm mới 2011 mà anh Trần Như Đắc đem đến cho mọi người là tập truyện & ký có tên "Một thời lính" - NXB Quân đội nhân dân - 2010.

 


 

"Một thời lính" với 24 truyện ngắn và bút ký một lần nữa sáng lên cái chất nhân văn sâu đậm của một cây bút từng trải mình trong những năm tháng quân ngũ. Nhân vật trong tác phẩm có khi là một vị tướng có khi là anh lính trẻ hay những cựu chiến binh đang sống bình dị trong cuộc sống đời thường. Nhưng ở họ có cái khác thường là luôn biết giữ gìn phẩm chất của anh bộ đội Cụ Hồ vượt qua những trở lực cũng như những cám dỗ thấp hèn để vươn lên làm tròn nhiệm vụ.

Đó là "Tướng Hiền" với những năm tháng cầm quân đánh giặc khi nghỉ lại làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh công lao thành tích đầy mình nhưng ông vẫn sống cuộc sống giản dị thanh bạch.

Nhân vật Dũng trong truyện "Theo chân bố" là con một vị tướng. Nhập ngũ anh về làm lính tỉnh đội. Ở đây đa số là "lính cậu" loại "con ông cháu cha" đôi lúc cũng vênh vang tự hào về truyền thống gia đình. Nhưng Dũng thì khiêm nhường học hỏi luôn chăm lo rèn luyện. Khi khai lý lịch phần nói về bố anh chỉ ghi: nghề nghiệp bộ đội.

Cha tôi trong truyện "Chùm sao bạc" hơn ba mươi năm trong quân ngũ khi về hưu chỉ là đại úy. Không phải là ông kém cỏi hay bị kỷ luật mà chậm tiến bộ. Tuy vậy ông rất tự hào về những năm tháng "thời lính" của mình. Khi về sống với gia đình ông gắn bó với bà con. Khi chết đám ma ông người đưa đông nhất.

Rồi những ông Thức ông Trụ ông Lã... trong truyện "Trung úy về hưu" là những hình ảnh quen thuộc về anh bộ đội sau khi hoàn thành nhiệm vụ về sống với địa phương. Cấp bậc hoàn cảnh gia đình có khác nhau nhưng ở họ đều có chung phẩm chất trong sáng của người lính Cụ Hồ sống tran hòa với bà con thôn xóm.

Nhân vật Lâm trong truyện "Rượu lạ" một thiếu tá về hưu nhà nghèo vì đông con nhưng từ chối sự mời mọc của người anh ruột đang cùng vợ chạy theo con đường làm giàu bất chính. Lâm không vì men "rượu lạ" kích dục của người chị dâu đốn mạt mà sa vào con đường đen tối loạn luân.

Có những truyện của Trần Như Đắc đọc một lần muốn đọc lại như truyện "Đêm trước hội làng". Nó vừa vui vừa thấm đẫm tình người. Vợ chồng ông Thiện chênh nhau về tuổi tác. Ông bảy mươi nhưng tráng kiện chỉ phái cái lười tắm. Bà sáu mươi lại có vẻ hồi xuân lúc nào cũng thơm tho sạch sẽ. Ngày mai làng Liễn vào hội bà Thiện tắm gội sắm lễ ra đền. Ông Thiện nhìn bà thấy thèm thuồng và phát ghen. Không phải ông ghen với một người đàn ông nào đó mà ông ghen với cái mùi thơm tho tỏa ra từ da thịt bà ghen những áo quần bà mặc sao nó khít khao vừa vặn ghen với những ngày rằm mồng một bà bảo ông ra nằm giường ngoài... Lần này hội làng Liễn bà Thiện lại mải mê sắm sửa. Nhà có hai cái giường một cái dành cho vợ chồng con cái anh con giai cả ở ngoài Thị xã về. Còn cái giường ngoài dĩ nhiên là chỗ của ông bà Thiện. Nhưng tính ông bà lạ gì. Nằm gần nhau là chân ông ghếch gác tay ông sờ soạng mà ngày mai thì bà phải trai giới ra đền. Bà ra nằm ở cái trường kỷ mà thương ông một mình trằn trọc... Còn ông thì tôn trọng bà không vì cơ hội của sự ham muốn mà phũ phàng đoạt lấy. Họ thương nhau hồn nhiên như vậy. Phải chăng ở ông Thiện có cái chất của người lính già?

Có những truyện mới đọc tưởng như tác giả phê phán tiêu cực như truyện "Gan Hai Bạo" nhưng không phải. Cựu chiến binh Hai Bạo dáng người to cao thô ráp khi mới ra quân nhà nghèo sinh chán nản rồi sa đà quán xá bia bọt. Tình cờ Hai Bạo gặp cô Tý chủ quán xinh đẹp. Cô này đã một lần sa ngã đánh mất cái "ngàn vàng" khi mới 16 tuổi bởi ông Mạnh giàu có ở ngoài phố. Về làng Tý mang tiếng là gái ca ve. Gác mọi điều tiếng thị phi Hai Bạo quyết lấy Tý. Họ sống với nhau hạnh phúc. Cả hai cùng ra sức làm kinh tế. Và bây giờ Hai Bạo trở thành ông chủ một ông chủ to gan được nhiều người ca ngợi.

Xung quanh nhân vật người lính mà chính tác giả xưng "Tôi" là những con người gần gũi nhân hậu đầy trách nhiệm với cuộc sống. Đó là cha tôi anh tôi chị tôi cô tôi... Mỗi người một cá tính một số phận nhưng họ đều đáng yêu đáng trọng bởi đức tính hy sinh chịu đựng để đem lại hạnh phúc cho người khác.

"Chị tôi ở phố Hòe Nhai" là một truyện hay được in ở báo Văn nghệ số đặc biệt kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Người chị dâu ấy với bản chất của con gái Hà Thành đảm đang tần tảo bán buôn đã gánh vác công việc nhà chồng đông người với một đàn em trong những ngày gia đình tản cư đi kháng chiến.

Tóm lại "Một thời lính" là một tập truyện có những giá trị nhất định về tư tưởng cũng như bút pháp thể hiện đánh dấu một bước tiến mới trên con đường sáng tác văn xuôi của Trần Như Đắc. Đọc "Một thời lính" tôi thấy tin yêu thêm cuộc sống càng trân trọng những năm tháng mà người lính cách mạng đã nếm trải để khi về với cuộc sống hôm nay họ giản dị và trong sáng ánh lên những phẩm chất cao đẹp giữa cảnh bộn bề bon chen danh lợi.

 

More...