Thơ Đàm Tuất

By Nguyễn Anh Đào

                        Tìm anh nơi vô vọng

                                                                        Nguyễn Anh Đào

Nhà thơ Đàm Tuất vừa có chuyến đi vào miền Trung cùng đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ. Anh có một số bài thơ mới làm qua chuyến đi trong đó có bài “Tìm anh”.


alt

                  Thắp hương tại Thành cổ Quảng Trị

                          

                          TÌM ANH

(Kính viếng anh trai: Liệt sĩ Đàm Hữu Mùi)

 

Gió lay phơ phất hồn lau

tiếng chim lạc dưới thung sâu gọi bầy

trời vần vũ

ngổn ngang mây

ai đưa em đến chốn này tìm anh!

 

Dấu mình dưới lớp cỏ xanh

Khóc lòa hai mắt… Mẹ thành cổ nhân

Câu thề - cũng nửa chừng xuân

Trai sinh thới loạn một gần… mười xa

 

Giữa rừng mộ chí bao la

lặng thầm

anh mãi chỉ là vô danh

lại thêm lần nữa hy sinh

và mang theo khúc quân hành về đâu…!

 

Sương mờ… mờ lấp dòng sâu

Em nghe vọng gió… những câu: Ơi đò!


alt

             Tại Nghĩa trang Trường Sơn

Chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng nhưng nỗi đau mất mát do nó gây ra thì như còn mãi đó với thời gian.

Người anh của Đàm Tuất đã nằm lại ở đâu đó trên mảnh đất Miền Trung sau một trận đánh ác liệt trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước năm xưa. Nhân chuyến đi này Đàm Tuất tìm anh ở Nghĩa trang Trường Sơn rồi Thành cổ Quảng Trị. Nhưng càng tìm thì càng vô vọng. Nơi đây “dưới rừng mộ chí bao la” tìm đâu cho thấy cái tên Đàm Hữu Mùi. Và cái cảnh chiến trường xưa hiện ra không chỉ là máu lửa đạn bom mà còn có cả “tiếng chim lạc dưới thung sâu gọi bầy”. Lạnh lẽo buồn tủi và cả ai oán khi “Gió lay phơ phất hồn lau”. Cái hình ảnh “vi lô xao xác” mở đầu bài thơ ấy gợi nỗi nhớ thương da diết mà ta gặp đâu đó ở những bến bờ hiu hắt vào những chiều sương Châu Mộc trong thơ Tây Tiến của Quang Dũng. (Ai lên Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau những bến bờ?).

Có sự hy sinh nào khi đứa con dứt ruột đẻ ra lại không để lại trong cuộc đời người mẹ nỗi đau buồn chồng chất. Người mẹ của liệt sĩ Đàm Hữu Mùi đã “thành cổ nhân” sau những năm tháng “khóc lòa hai mắt”. Và người yêu của anh cũng đành dang dở câu thề vì “trai sinh thời loạn một gần… mười xa”. Sự hy sinh thật là quá lớn đối với gia đình họ Đàm!

Nhưng nỗi đau mất mát không chỉ dừng lại ở đó. Đàm Tuất chợt nhận ra sau hai chữ “vô danh” trên những tấm bia mộ liệt sĩ nơi đây là cả một khoảng trống vô biên vời vợi. Một thực thể có đấy hiện hữu đấy mà vĩnh viễn lại là không. Biết đâu trong số hàng hàng bia mộ đứng câm lặng kia lại không có hài cốt của anh Mùi dưới đó? Thế là:

“Lại thêm lần nữa hy sinh

anh mang theo khúc quân hành về đâu…!”.

Cuộc “Tìm anh” của Đàm Tuất vậy là chìm trong vô vọng. Giữa cảnh quan hùng vĩ và hoành tráng nơi nghĩa trang quốc gia được xây cất hiện đại đẹp như một công viên nườm nượp người thăm viếng mà anh bỗng cảm thấy đất trời vần vũ:

 “Sương mờ… mờ lấp dòng sâu

 em nghe vọng gió… những câu “Ơi đò”…

Người đọc cảm thấy tê tái như vừa nghe có tiếng hú của gió ngàn vọng về từ xa thẳm chập chờn những linh hồn liệt sĩ nhắc nhở chúng ta hôm nay: Đừng bao giờ lãng quên những người con của dân tộc đã ngã xuống trong cuộc chiến năm xưa dù là vô danh hay hữu danh.

("). Mời các bạn đọc thêm: Đàm Tuất: Thơ và Đời

                                                                                            N. A. Đ

More...

Thơ Vũ Quốc Khánh

By Nguyễn Anh Đào

 

 

 

                                     Vũ Quốc Khánh ĐỜI LÍNH ĐỜI THƠ

 

                                                                                                                                                                                                                                        Nguyễn Anh Đào

 

Kỹ sư nông nghiệp Vũ Quốc Khánh  là người gắn bó với cây với rừng từng là Giám đốc Nông trường chè Thái Nguyên rồi tạt ngang sang làm Giám đốc một doanh nghiệp ở Thanh Sơn – Phú Thọ. Anh đã có hai tập thơ in và trở thành hội viên Liên hiệp Hội VHNT tỉnh. Đương nhiên người đọc nghĩ đến cái hồn thơ chủ đạo trong mỗi bài của Vũ Quốc Khánh phải là “Một tôm hai lá” là “Hương gây mùi nhớ” của trà rừng... Nhưng không hẳn thế. Hàng trăm bài thơ của Vũ Quốc Khán đều nói về thời gian anh cầm súng chiến đấu ở chiến trường miền Nam vào những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 1972 đến 1975. Đang là sinh viên đại học chàng trai vừa tròn 22 tuổi Vũ Quốc Khánh tạm biệt bạn bè thầy giáo lên đường vào Nam đánh Mỹ. Ngày đầu nhập ngũ lính mới hành quân bộ: “Đôi chân thư sinh bỡ ngỡ/ Rát phồng mọng nước tuột da/ Ba mươi cây số một đêm đã qua/ Ngâm nước muối đêm mai đi tiếp…) – Bài “Nhập ngũ” làm ngày 14-9/1972  hẳn là bài thơ đầu tay Vũ Quốc Khánh ghi lại kỷ niệm đời lính của mình. Cho đến bài “Tình lính” làm tại trường Đại học Nông nghiệp I ngày 10-11/1975 sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở lại trường xưa trong vòng tay bạn bè thầy giáo cùng với những niềm vui nỗi buồn: “Lớp học xưa thầy cũ vẫn chờ mong/ Ngày gặp lại nhắc người còn người mất”.

alt

Hơn ba năm trong quân ngũ giữa những ngày “ác chiến” đủ để cho hồn thơ của Vũ Quốc Khánh bay bổng qua những thử thách chiêm nghiệm giữa sự sống và cái chết giữa tình bạn chiến đấu và kẻ thù một mất một còn. Đôi chỗ phảng phất chí khí của người chinh phu “Gác bút nghiên theo việc đao cung”. Nhưng cái âm vang dữ dội của đạn pháo cái đói cơm đói rau và những cơn sốt rét rừng lại kéo anh trở về với thực tại. Và liền đó là nỗi nhớ trào lên. Anh nhớ trường nhớ lớp nơi từ đó anh mang ba lô mặc áo lính lên đường chiến đấu:

                  “Ở Trường Sơn nhớ giảng đường đại học

                   Tiếng đại bác gầm nhớ tiếng trống trường quen

                   Pháo sáng bừng trời địch bắn thâu đêm

                   Lại nhớ ánh đèn hội trường họp lớp…”.

Và anh ghi lại bằng thơ nỗi nhớ thời sinh viên của mình:

                  “Khoác ba lô lên vai nhớ thương cây bút

                   Viết câu thơ nhớ buổi hẹn hò

                   Tuổi sinh viên đầy ắp mộng mơ

                   Ở Trường Sơn luôn nhớ trường đại học”.

Nhưng da diết và sâu nặng nhất vẫn là nhớ mẹ nơi quê nhà: “Ngày xưa mẹ dạy nấu cơm/ Với niêu đất với rạ rơm quê mùa”. Còn bây giờ: “Con vào bộ đội gần năm/ Nấu cơm bằng chảo cho trăm lẻ người”. Cách con nấu cơm không như ngày xưa mẹ dạy. Nhưng “Con dù vất vả nắng mưa/ Vẫn như có mẹ sớm trưa theo cùng” – (Bài Mẹ). Những câu lục bát còn vương theo cả rơm rạ tro than trở thành hành trang của người lính chiến luôn nằm kỹ trong ba lô nặng trĩu trên vai. Cứ theo ý bài thơ thì tác giả có lần là anh nuôi. Không những thế có những ngày phải vào rừng lấy củi: “Trời mưa tầm tã rừng chiều/ Bấm chân gánh củi liêu xiêu đường lầy”. Sinh ra và lớn lên ở đồng bằng Tiên Lữ - Hưng Yên giờ lăn lộn với Trường Sơn gian lao hiểm trở nếu không có ý chí và quyết tâm lớn thì làm sao người thanh niên Vũ Quốc Khánh có thể vượt qua được. “Dẫu cho bầm tím đôi vai/ Cuộc đời quân ngũ hôm mai luyện rèn” – (Bài “Tự sự”). Cho nên đọc thơ anh ta càng khâm phục lớp thanh niên thời chống Mỹ. Họ ra trận với cả một niềm tin sắt đá vào ngày mai chiến thắng.

Có thể nói thơ Vũ Quốc Khánh trong tập Cánh võng lời ru (NXB Hội Nhà văn – 2008) là sự minh họa cho câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phới phới dậy tương lai” trong đó nổi bật lên hình ảnh người lính giải phóng với biết bao gian khổ nhưng vẫn lạc quan yêu đời. Đó là cảnh hành quân giữa rừng đại ngàn đi theo “vết mòn thú rừng cắt lối” người lính nhận biết qua giác quan nhạy cảm. “Thoáng mùi lạ biết là ta là địch…/ Vết dập cành đoán người thực người nghi” Và:

               “Giữa chằng chịt dây leo không có lối đi

                 Nhìn tán cây biết đông tây nam bắc

                 Vỏ đồ hộp biết là gần quân giặc

                 Theo ngọn rau rừng biết sắp gặp quân ta”. – (Bài “Đường rừng”).

Khi dừng chân nghỉ lại thì mái tăng trở thành mái nhà chở che cho giấc ngủ giữa hai trận đánh. Và anh chiến binh Vũ Quốc Khánh bồi hồi nhớ lại:

                “Từ bé lớn lên sống giữa đồng bằng

                  Mái rạ ấm che tôi qua mưa bão”.

Giờ thì:

                 “Giữa những cơn mưa rừng xối xả

                  Tôi yên lòng ngon giấc dưới mái tăng” – (Bài “Mái tăng”).

Đói rét bom đạn không làm chùn bước anh lính giải phóng mà ngược lại anh còn thi vị hóa nó. Tiếng kẽo kẹt của cánh võng nơi rừng xa “Trong giông mưa và tiếng gầm pháo giặc” anh vẳng nghe thấy tiếng ru hời của mẹ thuở ấu thơ. Gặp tiếng cười của cô giao liên tiếng cười “Như mềm đi tiếng gầm xe xích”. Giữa chiến trường ác liệt người lính vẫn nhận thấy Đêm Sanavan thật yên tĩnh và trăng ở đây sáng quá… Đem đối lập giữa bổng trầm lời ru với tiếng gầm của pháo giặc hay tiếng cười của cô gái với tiếng rít ghê rợn của xích xe và chính cái âm thanh chát chúa man rợ kia đã bị tiếng cười con gái và cái mềm mỏng của cánh võng lời ru làm cho vô hiệu hóa. Bằng những chi tiết độc đáo đó Vũ Quốc Khánh đã tìm ra một tứ lạ cho thơ. Nó nói lên tính lạc quan phơi phới của người chiến sĩ trong những năm tháng ác liệt chống quân thù. Ngộ hơn nữa là cảnh bộ đội “Tắm giữa mùa khô” cái mùa khô ác liệt ở Tây Trường Sơn “Nước khe cạn bướm bay lèn đá” trong thơ Phạm Tiến Duật. “Mấy ngày trời bụi bám chật lối đi/ Không tắm rửa lính hành quân ngang chạy”. Phải nói là bẩn! Thế rồi gặp suối các chú lính trẻ nhà ta ào xuống tắm… truồng. Hẳn là rất kỳ khi anh nọ nhìn anh kia nên mới có thơ “Bộ đội tắm cười rung cả Tây Nguyên”. Đó là cái cười vô tư và sảng khoái cười đến vỡ rừng vỡ suối chỉ có ở người lính trẻ.

Thơ Vũ Quốc Khánh nói nhiều đến các địa danh ở miền Nam thời chống Mỹ. Những Rừng Le Rừng Khộp Núi Cấm Bãi Khách A Sầu A Lưới Bồng Miêu… Những cái tên buôn tên làng đã đi vào ký ức một thời đối với những ai từng đặt chân đến. Ai đó có thể quên đi còn anh thì không. Dù lập nghiệp ở đất Thanh Sơn xa ngái vẫn nhớ về những nơi ấy không nguôi. Đọc thơ Vũ Quốc Khánh ta yêu biết mấy cái làng Vĩnh Chấp làng chiến tranh. Khi ấy chỉ có cát và trẻ em. Cát thì đã đành nó là sản phẩm tồi tệ của khí hậu miền trung khắc nghiệt. Nhưng sao lại chỉ có trẻ em? Vì người lớn “Ai còn sức đều ra phía trước/ Người cầm súng người cầm cầy cầm cuốc/ Bộ đội đến nhà thành khách của trẻ em” – (Bài “Vĩnh Chấp”).

Sinh ra và lớn lên ở đồng bằng nhưng mơ về rừng nên học Đại học Nông - Lâm. Gặp khi vận nước cần những người trai ra trận anh sinh viên Vũ Quốc Khánh sẵn sàng nhập ngũ. Quê hương sạch bóng quân thù trở về trường xưa học cho xong phần dang dở để rồi cầm mảnh bằng kỹ sư Lâm nghiệp tìm đến với rừng với chè rồi vừa kinh doanh sản xuất vừa làm thơ. Thơ Vũ Quốc Khánh nhiều bài đầu đề có chữ “rừng”: Đường rừng Mưa rừng Cái đói ở rừng Sốt rét rừng Giữa rừng gặp đồng hương Nhớ rừng Thương rừng Rừng và biển…  Đó là phác thảo của một đời thơ đời lính Vũ Quốc Khánh. Tuy mộc mạc thô ráp nhưng chân thành tha thiết ý thơ táo bạo như bước chân hành quân của người lính giải phóng năm xưa cùng với màu xanh suy nghĩ của một doanh nhân giàu tâm huyết say sưa với công việc đã làm nên hồn thơ Vũ Quốc Khánh sâu xa và ấn tượng.

 

                                                                                                   N. A. Đ

 

 

 

More...

Ngày xuân tìm bạn...

By Nguyễn Anh Đào


                Ngày xuân...

                                    Tìm bạn không gặp gặp hoa rừng

 

                                       Nguyễn Anh Đào

 

             Trong sự nghiệp thơ văn của Bác Hồ thì thơ chữ Hán của Người có vị trí hết sức quan trọng. Ngoài tập Nhật ký trong tù Bác còn làm nhiều bài thơ bằng chữ Hán trong đó có những bài mà giá trị của nó phải nói là đạt tới đỉnh cao của nền thi ca dân tộc như các bài Nguyên tiêu Báo Tiệp Đăng Sơn Đối nguyệt...

 


 

         

More...

Thơ Nguyễn Trọng Vĩnh

By Nguyễn Anh Đào


Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh năm nay 95 tuổi. Mọi người biết tên ông khi là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc (1974 - 1987). Những ngày tết Tân Mão trên trang mạng của Nguyễn Xuân Diện và Trần Nhương có đăng tải những bài thơ của tướng Vĩnh. Những bài thơ đó đọc lên thấy hợp với tâm tư tình cảm của nhiều người.

Dưới đây là bài "Tự bạch" và bài "Hỏi - Nhắc - Nhắn" của ông.

Tự bạch
Nguyễn Trọng Vĩnh

Nợ nước đền tạm đủ
Nghĩa dân trả cũng vừa
Chín mươi nhăm tuổi thọ
Vẫn không chịu sống thừa

Việc nước hằng theo dõi
Góp ý kiến chân thành
Mong xã hội lành mạnh
Đất nước phát triển nhanh

Thấy việc gì sai trái
Cứ thẳng thắn đấu tranh
Dù quyền uy trù ghét
Vẫn cứng tựa sắt đanh

Chức không cao không thấp
Không giàu cũng chả nghèo
Biết được ai khốn khó
Cũng "của ít lòng nhiều"

Với bạn bè: trung thực
Với xóm giềng: chan hòa
Kính trọng người lương thiện
Khinh ghét lũ gian tà

Những tháng ngày còn lại
Sống thanh thản ung dung
Con cháu cũng hãnh diện
Mình không thẹn với lòng

Xuân Tân Mão
N.T.V

 Nguồn: Nguyễn Xuân Diện blog

HỎI - NHẮC - NHẮN

Hỏi những quan tham lại nhũng
Làm giàu chết có mang đi?

Nhắc kẻ nắm quyền hống hách
Nhớ chăng: "Quan chỉ một thì?"

Nhắc kẻ độc tài độc đoán
Trên đời từng có Hít - le

Nhắn kẻ ba hoa dối trá
Tô hồng dễ mấy ai nghe?!

N.T.V

 

Nguồn: trannhuong.com


More...

Tú Xương làm câu đối tết

By Nguyễn Anh Đào


            

                                        " X­ƯA NAY EM VẪN CHỊU NGÀI"

        

 Đó là lời bà Tú khen chồng làm thơ ngày tết.

Vào năm Giáp Ngọ (1894) Trần Tế X­ương đỗ tú tài. Nh­ng đấy đâu phải là cái chí của ông. Ông muốn đỗ đại khoa để đem cái đạo học ra thi thố với đời. Chứ cái chân tú tài thì chỉ làm anh nha lại "Sớm vác ô đi tối vác về" có gì mà đáng khoe giỏi khoe tài.

 


 

Ba m­­ươi tết hàng phố thi nhau sắm sửa câu đối dán đỏ tr­­ước cửa trong nhà. Ông Tú ngồi buồn thiu trên sập hút thuốc lào vặt. Bà Tú đi chợ về. Nhìn qua thấy trong rổ bà sắm tết có con cá khổ thịt mớ rau chai r­­ượu thẻ h­­ương và cả tờ giấy hồng điều. Nghĩ cảnh sắm tết nhà nghèo ông Tú càng ngán ngẩm. Bà Tú đ­­ưa tờ giấy cho ông vui vẻ nói:

More...

Vè vẻ vè ve

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

Lời Người ven sông:

 

Trang blog Người ven sông vừa nhận được bài vè của Nhà thơ Đặng Tiến Huy nguyên Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Bắc Giang nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Thương sau khi đọc bài bình luận của Người Đất Tổ "Màn diễn vụng về ở Nhà Văn hóa Lao động tỉnh Phú Thọ". Anh Huy là người rất "dị ứng" với thói ba hoa "thùng rỗng kêu to". Sau khi theo dõi sự kiện ông Bành Thông kỷ luật Nhà thơ Điền Ngọc Phách giống như một thứ trò lố đến phỗng đá cũng không khỏi bật cười anh Huy đã thuận miệng làm mấy câu vè chuyển mail sang.

Xin chân thành cảm ơn Nhà thơ Đặng Tiến Huy và mời các bạn cùng đọc cho vui.

 

Kính gửi:Người Ven Sông cùng các bạn Thơ Phú Thọ.

Tôi được xem một số bài trên một số trang web (Trannhuong.com Nguyễn Trọng Tạo New) vừa rồi lại được đọc bài Bình luận của Người Đất Tổ về việc làm của ông Chủ tịch CLB Thơ VN đối với CLB Thơ Phú Thọ và Nhà thơ Điền Ngọc Phách thấy thật KINH...và buồn... cười. Xin có đôi câu vè sau đây:

 

"Bành Thông ơi hỡi...Lý Thông

Về già "thơ thẩn" nên nông nỗi này.

Hiện hình lốt cáo đặt bày

Mò vào đất Tổ có ngày ra ma.

Bấy lâu lừa lọc gần xa

Đeo râu áo lọng... hóa ra phường trò...

Nghe đâu định cướp Cờ Thơ

Của Hội Hữu Thỉnh mập mờ lên ngôi.

Chủ...Câu lạc bộ thơ rồi

Lại muốn "Chủ...Hội Thơ" ngồi tót trên.

Hội viên đôn đáo một phen

Nộp tiền đổi thẻ...Danh lên sáng lòa (!).

Bốn phương trời Việt Nam ta

Vẫn còn lắm kẻ mù lòa háo danh.

Cấp trên biết mẹo hôi tanh

Nên không phê duyệt cho thành "Hội Thơ"...

Vố đau tưởng cạch đến giờ

Thói quen "sếp dởm" dở trò ra oai

Quyết định cách chức "nhân tài"

Không ngờ bổ ngửa lộ vai diễn hề...

Đôi lời to nhỏ có nghe

Cuốn cờ vác dáo mà về cho yên !...".

                                     

Huybg09 

More...

Vĩnh biệt Nhà thơ Nguyễn Hỷ

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

NGUYỄN HỶ

Người đã "về qua giới hạn một vô cùng"

                                                                                Nguyễn Anh Đào

            Trung thu năm nay buồn!

Sáng nay 16 tháng 8 âm (23-9) bà con thôn Nỗ Lực xã Thụy Vân thành phố Việt Trì cùng bạn bè thơ văn đã bùi ngùi thương tiếc đưa tiễn Nhà thơ Nguyễn Hỷ về nơi an nghỉ vĩnh hằng. Anh đã "về qua giới hạn một vô cùng" như lời anh tâm niệm..

Cách đây ít lâu tôi có đến thăm anh ngồi với anh suốt một buổi sáng nghe anh đọc những bài thơ anh mới làm trong những ngày đi Trại sáng tác Tam Đảo. Có hôm anh dùng điện thoại đọc thơ cho tôi nghe có khi hàng nửa tiếng. Lúc đó có đâu ngờ trong người anh đang ủ bệnh rồi vội vã ra đi. Đành rằng cái từ "Ta về" trong bài "THƯƠNG" anh trở đi trở lại như nhắn gửi mọi người.

Anh đi như một ánh sao băng để lại những tia sáng tỏa ra từ lòng yêu thương vô bờ của một trái tim độ lượng và sâu nặgg tình nghĩa bạn bè.

"Ta về thương mối tình ta thơ dại

Thương mùa đông tê lạnh đến khôn cùng"

Anh đi "Dải chớp vắt ngang trời chiều để lại/ Cắp mảnh trăng thề hồn hiệp sĩ mênh mang". Anh đi nhưng hồn anh "hồn hiệp sĩ" vẫn mênh mang ở lại.

Nhớ anh tôi xin đưa lên trang Nhật ký điện tử cá nhân (blog) của mình bài tôi viết về anh khi anh còn khỏe.

Mong anh yên giấc ngàn thu!

 

 

             Cùng anh Nguyễn Hỷ trong những ngày ở Tam Đảo hè 2004

More...

Đàm Tuất và Thơ

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

                    Đàm Tuất Thơ  và đời

                                                                            Nguyễn Anh ĐÀo

1.

 Anh tên Tuất nhưng tuổi Tý. Theo đặc trưng tính cách của mỗi người mang tuổi của từng con giáp thì tuổi Tý (con chuột) có những tính tốt như: Hòa nhã đối với mọi người; giỏi kết giao bạn bè mềm mỏng và dịu dàng; thích thu lượm thông tin; giàu tình cảm sống trật tự ngăn nắp; tính cách hướng ngoại... Ở Đàm Tuất tôi thấy anh có đủ những đức tính đó. Cùng tuổi Tý với anh nhưng tôi hơn một giáp. Anh Mậu Tý nên hào hoa và quý phái. Còn tôi Bính Tý thì lận đận bọt bèo. Hết giáo viên cắm bản rồi lại đến thầy giáo trường làng. Văn chương viết lách thì tòong teng như chú chuột đánh đu trên dây điện.

 


 

More...

Gửi Bành Chủ tịch

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

GỬI BÀNH CHỦ TỊCH

 

       Xuân Lộc 

       Nhân vào đọc <trannhuong.com> bài "Một quyết định sai trái đối với Nhà thơ Điền Ngọc Phách"

 

 

 Quyết định của Bành c.t khai trừ Điền Ngọc Phách

Văn ngài hay đến cỡ mô
Mà làm chủ tịch hội thơ nước nhà ?
Quyết định kỷ luật ngài ra
Đọc xong mới thấy như là trò chơi.


Thơ là tâm của mỗi người
Hội là nhóm họp vui chơi tuổi già
Rượu trà thơ phú nhâm nha
Cuộc chơi trí tuệ thế là đủ vui.


Thương nhau chín bỏ làm mười
Hay chi thư gửi khắp nơi tiệt trừ
Làm chủ tịch hội nhà thơ
Mà cho mình tựa ông vua thế à ?


Dẫu gì cũng gọi là nhà....
Thơ thì ứng xử cho ra giống người
Chắc ông cũng đã da mồi
Thôi về trà nước vui chơi với bà...


Quan cách gì chốn thi ca
Trăm năm chỉ một tiếng "khà"là vui.
      

 6/9/2010
www.tayhaco.com/xuanloc

More...

Đại hội nhà văn khóa VIII ngâm khúc

By Nguyễn Anh Đào

Normal 0 false false false VI X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII vừa kết thúc đã bầu ra được một BCH mới đủ 15 vị. Nhà thơ Hữu Thỉnh được tái cử lần thứ 3 chức Tổng thư ký. Sau những ngày "sục sôi" và ầm ĩ nhưng rất vui với những lời nói thẳng nói thật khảng khái và rất mực của các nhà văn cuối cùng Đại hội đã thành công tốt đẹp. Xin chúc mừng các nhà văn. Chúc mừng Nhà thơ Hữu Thỉnh.

Nhân dịp này Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện có đưa lên blog của mình bài "ĐẠI HỘI NHÀ VĂN KHÓA VIII NGÂM KHÚC" đăng nhiều kỳ. Anh định đóng thành tập bìa cứng. Gáy bìa quét nhũ vàng bạc rồi đem đến trụ sở Hội để trao tận tay cho Nhà thơ Hữu Thỉnh. Thấy hay và vui Người ven sông xin được cóp về và gộp lại cho liên tục. Xin gửi tới các bạn cùng đọc cho vui để vừa nắm được một cách sơ lược diễn biến của Đại hội vừa sống lại không khí của khúc ngâm Chinh phụ.

Xin cảm ơn Tiến sĩ - Nhà văn Nguyễn Xuân Diện

                       

*****

 

KHÚC MỘT - TIỀN ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN

Thưở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!


More...